TS. BÙI THỊ THU HIỀN(*)
(*) Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là những người có vai trò quan trọng trong hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vào thực tiễn đời sống; đồng thời, là người quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát. Do vậy, trong mọi hoạt động, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược rất cần sự nêu gương gắn với nền tảng văn hóa lãnh đạo tương xứng, phù hợp với yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ. Việc vận dụng phẩm chất “6 dám” theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào việc nâng cao văn hóa lãnh đạo của cán bộ cấp chiến lược là cần thiết và cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
Từ khóa: cán bộ cấp chiến lược; “6 dám”; văn hóa lãnh đạo
1. Dẫn nhập
Cán bộ cấp chiến lược là lực lượng nòng cốt, giữ những vị trí, trọng trách lớn, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội. Để cán bộ cấp chiến lược hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, là nơi hội tụ văn hóa lãnh đạo và thực hành văn hóa lãnh đạo, tạo dựng được uy tín với nhân dân, thì việc bồi dưỡng, rèn luyện, xây dựng văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có vai trò then chốt, “xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả”(1). Xây dựng văn hóa lãnh đạo của cán bộ cấp chiến lược cũng chính là xây dựng Đảng, để “Đảng là đạo đức, là văn minh”, để Đảng thực sự “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Văn hóa lãnh đạo là bộ phận quan trọng của văn hóa, là hệ thống những giá trị, chuẩn mực với những đặc trưng khác nhau của một con người, một tổ chức tạo nên phong cách lãnh đạo, quản lý khoa học, có ảnh hưởng ở phạm vi rộng lớn đến cách thức hành động của mọi người và tổ chức nhằm đạt được đồng thuận trong việc thực hiện các mục tiêu đã đặt ra của hệ thống. Văn hóa lãnh đạo của cán bộ cấp chiến lược là hệ thống những giá trị, chuẩn mực tạo nên phong cách lãnh đạo của người cán bộ, có tầm ảnh hưởng đến nhận thức và hành động của tổ chức và nhân dân. Nhận thức rõ vai trò của đội ngũ cán bộ, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nêu lên nội dung rất mới về xây dựng cán bộ “6 dám”: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung(2). Có thể thấy, các nội dung của “6 dám” chính là biểu hiện văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Đó là một chỉnh thể nhân cách của những người năng động, dũng cảm, sáng tạo vì lợi ích chung. Thực tế, công tác lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đòi hỏi họ phải có bản lĩnh vững vàng, có đủ phẩm chất, trí tuệ và có uy tín cao để giải quyết những công việc ở tầm chiến lược, xử lý kịp thời, đúng đắn, có hiệu quả những tình huống phức tạp có quan hệ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, sự sống còn của chế độ. Trong tình hình ấy, việc vận dụng phẩm chất “6 dám” vào xây dựng văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là cần thiết và cấp bách.
2. Nội dung “6 dám” và yêu cầu nâng cao văn hóa lãnh đạo của cán bộ cấp chiến lược trong bối cảnh mới
“Dám” là không sợ sệt, không lo ngại để đương đầu với những khó khăn, thách thức, những việc chưa được làm trước đó, mạnh dạn đưa ra những nội dung mới chưa được đưa vào cơ chế, chính sách trước đó. Theo đó:
– “Dám nghĩ” là việc đưa ra những ý tưởng mới, độc đáo, đột phá, sáng tạo so với trước đó. Những ý tưởng mới này sẽ tạo nên sự thay đổi về cách làm, đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của tổ chức; có ảnh hưởng, tác động tích cực cho tổ chức, cho nhiều người. Dám nghĩ là phẩm chất đầu tiên làm cơ sở cho các hành động tiếp theo để hiện thực hóa ý tưởng trong thực tiễn. Dám nghĩ không phải là duy ý chí, mơ mộng viển vông, mà là biểu hiện của năng lực tư duy, tầm nhìn sâu rộng với mục tiêu hướng đến lợi ích chung, khai thông mở lối cho sự phát triển.
– “Dám nói” là thể hiện chính kiến, quan điểm, thái độ dứt khoát trong bày tỏ quan điểm của một người trước sự đúng – sai, tốt – xấu của một người, một việc. Chỉ khi đủ bản lĩnh, sự công tâm, thẳng thắn thì mới có thể đánh giá, xem xét, nhận định đúng đắn một người, một sự việc trong một hoàn cảnh, một trường hợp cụ thể. Đối lập với “dám nói” là sợ sệt, co ro, “dĩ hòa vi quý” để giữ hòa khí, dễ ngả nghiêng, dao động “gió chiều nào theo chiều ấy” cho an toàn, êm ấm và suy cho cùng, là biểu hiện tinh vi của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi.
– “Dám làm” là thể hiện sự dấn thân, quyết liệt, quyết tâm của một người khi dám vượt qua những quy định, quy chế để biến ý tưởng thành hành động nhằm đạt được những mục tiêu đề ra vì lợi ích chung, vì sự phát triển chung của xã hội. Dám làm không có nghĩa là làm liều, làm trái pháp luật, cố tình vi phạm pháp luật, mà là chủ động tìm cách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, có cách làm phù hợp với thực tế, “cởi trói” cơ chế không còn phù hợp để mở đường cho sự phát triển.
– “Dám chịu trách nhiệm” là dám nhận nhiệm vụ, nỗ lực hết mình để hoàn thành nhiệm vụ được giao, dám đối mặt với khó khăn, thách thức và cả những rủi ro ngoài ý muốn để hoàn thành nhiệm vụ. Nói cách khác, “dám chịu trách nhiệm” là dám nhận nhiệm vụ và chịu trách nhiệm đối với sự thành công hay thất bại khi thực hiện nhiệm vụ ấy để đạt được mục tiêu và hiệu quả trong thực tế.
– “Dám đổi mới sáng tạo”: đổi mới là quá trình chuyển đổi những cái cũ thành cái mới tốt hơn, phù hợp hơn với thực tiễn. Đó là quá trình biến những ý tưởng sáng tạo trở thành những sản phẩm, dịch vụ, quy trình mới. Đổi mới gắn liền với sáng tạo và cần phải đổi mới sáng tạo vì nếu không đổi mới sáng tạo thì sẽ không thể tồn tại và phát triển trong một môi trường biến động nhanh, linh hoạt và có tính cạnh tranh cao. Dám đổi mới sáng tạo là dám vận dụng những ý tưởng mới, sáng kiến mới vào thực tiễn để tạo nên những thay đổi mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực về vật chất, tinh thần, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của tập thể, tổ chức và toàn xã hội.
– “Dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”: “Đương đầu” là đối mặt, chuẩn bị sẵn sàng tinh thần và lực lượng để chủ động đối phó với mọi thách thức, khó khăn mà thực tiễn đặt ra trong quá trình thực thi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, sự đương đầu, đối mặt này không phải để đem lại lợi ích cho cá nhân, mà đem lại lợi ích chung. Một người, một cán bộ chỉ dám đương đầu với khó khăn, thách thức và quyết liệt trong hành động khi có đủ bản lĩnh, nghị lực và quyết tâm chính trị cao. Đó là lòng kiên trì, dũng cảm, quyết tâm và kiên quyết trong hành động để thực hiện cho bằng được mục tiêu đã đặt ra.
Đối với cán bộ cấp chiến lược, dám nghĩ giúp cho người cán bộ toàn tâm, toàn ý, trăn trở để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đang đặt ra, tạo điều kiện, tiền đề cho sự phát triển. Nếu không “dám nghĩ” thì không giải quyết được những mâu thuẫn, không có cơ sở cho sự bứt phá để phát triển. Đồng thời, ý tưởng, tư tưởng, sáng kiến phải được nói ra, được thể hiện bằng việc “dám nói”, bằng chính kiến, bằng quan điểm trước sự đúng sai, tốt xấu, đấu tranh loại bỏ cái sai, cái xấu mở đường cho sự phát triển. Người cán bộ cấp chiến lược còn phải là người “dám làm”, dũng cảm đi đầu, gương mẫu làm trước, tiên phong, định hướng, dẫn dắt để nhân dân cùng làm. Nếu cán bộ không dấn thân thì không có sự đột phá, thay đổi và do vậy, sẽ tiếp tục cản trở sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Bên cạnh đó, người cán bộ phải dám đổi mới sáng tạo, tạo ra những mô hình, cách làm mới, đột phá thì mới có thể thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực khoa học – công nghệ…, của đất nước hiện nay. Bản lĩnh, nghị lực, quyết tâm chính trị và đạo đức cách mạng của cán bộ cấp chiến lược còn thể hiện ở việc “dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng.
Văn hóa lãnh đạo của người cán bộ đóng vai trò quan trọng vì về bản chất đó là sự thống nhất ở nhiều đặc điểm, phẩm chất của người lãnh đạo, biểu hiện trong các quan hệ và hoạt động chính trị – xã hội, trong các quan hệ và hoạt động lãnh đạo. Đó là sự thống nhất giữa lý trí và tình cảm, giữa đạo đức và tài năng, giữa bản lĩnh và sự thích ứng, giữa nội dung và phong cách lãnh đạo, giữa năng lực nhận thức và năng lực hành vi xã hội, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích giai cấp, lợi ích cộng đồng. Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ, mức độ chính xác của đường lối và việc cụ thể hóa đường lối chính xác, kịp thời cũng như việc thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phụ thuộc chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Vai trò và vị trí đó được quy định bởi những đặc điểm quan trọng trong hoạt động của người cán bộ cấp chiến lược thể hiện: một là, đội ngũ này là những người xây dựng và hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội; hai là, phạm vi, đối tượng tác động và phương thức hoạt động của họ là rộng lớn, đa dạng và phức tạp; ba là, đạo đức, tác phong, sự gương mẫu có ảnh hưởng to lớn đến quyết định, hiệu quả hoạt động của họ.
Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay đòi hỏi đội ngũ cán bộ cấp chiến lược không ngừng nâng cao văn hóa lãnh đạo để tiếp tục và kịp thời giải quyết những vấn đề cả về lý luận lẫn cơ chế vận hành một cách khoa học, căn cơ để đổi mới đi vào chiều sâu, hiệu quả. Đồng thời, thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng để Đảng ngang tầm nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Chính vì vậy, năng lực lãnh đạo, văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải được nâng cao mới có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước. Mặt khác, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng và sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang tác động đến tác phong công tác, văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược. Cụ thể:
Thứ nhất, sự nghiệp đổi mới đất nước tuy đã đạt được những thành tựu lớn, nhưng vẫn còn phải giải quyết, nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn mở đường cho đất nước có thể phát triển nhanh, bền vững. Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định 10 mối quan hệ lớn cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt, đó là: “giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(3). Để giải quyết các mối quan hệ này đòi hỏi đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược phải là những người dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Nếu chỉ làm theo những quy định, cơ chế đã có thì những vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ, chưa thành cơ chế vẫn là rào cản sự phát triển. Và ngược lại, chỉ khi người cán bộ tìm tòi, sáng tạo, đủ bản lĩnh mới có thể phát hiện ra khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn, đột phá, sáng tạo tìm ra cơ chế thực hiện để làm căn cứ cho lãnh đạo, tổ chức vận hành.
Thứ hai, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh đòi hỏi người cán bộ, đảng viên tiếp tục phát huy bản lĩnh, dám đấu tranh với tình trạng suy thoái đạo đức trong Đảng. Đảng chỉ thực sự “là đạo đức, là văn minh” khi mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu, phát huy tinh thần đấu tranh với cái xấu cái ác để bảo vệ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, đấu tranh với tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực, phẩm chất lãnh đạo, vận hành công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với tốc độ nhanh, tính chất bền vững. Hơn nữa, đảng viên của Đảng có nhiệm vụ “… đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác”(4), là thuộc tính thể hiện phẩm chất người đảng viên, bản chất của Đảng. Người cán bộ cấp chiến lược, hơn lúc nào hết, bên cạnh những phẩm chất, như có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước thì phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động thì mới có thể đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực trong Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Chỉ có vậy, Đảng mới đủ sức lãnh đạo công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
Thứ ba, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã ảnh hưởng tích cực và tác động sâu rộng tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến sự vận động, phát triển của đất nước, trong đó bao hàm yếu tố tích cực và là điều kiện thuận lợi đối với quá trình xây dựng văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược. Trong quá trình hội nhập, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có điều kiện nâng cao nhận thức, trình độ và tư duy. Tuy nhiên, công cuộc hội nhập quốc tế cũng bao hàm những yếu tố khách quan tác động nhanh chóng, khó lường và cả những thách thức, nguy cơ đặt ra mà người cán bộ cấp chiến lược nếu không có tầm nhìn, không có sự quyết liệt, quyết đoán và khả năng dự báo thì khó có thể đưa ra quyết sách đúng đắn cho sự phát triển của đất nước.
Thứ tư, sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi tác phong công tác, văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vận hành theo các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường, có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng, nhằm bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, nâng cao đời sống nhân dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã tác động tích cực đến đội ngũ cán bộ cấp chiến lược về tác phong, tư duy, năng lực quản trị kinh tế hiện đại. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường làm cho một số cán bộ cấp chiến lược dễ bị sa ngã, bị cám dỗ trước đồng tiền, quyền lực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Nhiều vụ, việc vi phạm phải xử lý kỷ luật đối với cán bộ kể cả những lãnh đạo có vị trí chủ chốt trong các cơ quan, đơn vị, địa phương, do tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định, vi phạm về đạo đức, lối sống… Như vậy, thời kỳ phát triển mới của đất nước, yêu cầu của sự nghiệp xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và tác động của quá trình hội nhập quốc tế và sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng cao văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.
Công tác xây dựng văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, được Đảng ta đặc biệt chú trọng, trong đó, việc bồi dưỡng, rèn luyện, xây dựng văn hóa lãnh đạo được xác định là nhiệm vụ then chốt, cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, với vai trò, vị trí, trọng trách của cán bộ cấp chiến lược, Đảng ta xác định, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược hiện nay cần phải có những phẩm chất vượt trội so với đội ngũ cán bộ nói chung trong hệ thống chính trị. Cán bộ cấp chiến lược ngoài việc đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn, yêu cầu chung đối với cán bộ, công chức thì phải có những yêu cầu riêng về trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng(5). Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, Đảng ta cũng xác định: “đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng, nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản”(6). Nhiều cán bộ, “trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế… Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm”(7). Những tiêu cực đó đã tạo lực cản đối với sự phát triển của đất nước, làm sụt giảm niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan công quyền và đội ngũ cán bộ hiện nay, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, làm kém hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Vận dụng phẩm chất “6 dám” vào xây dựng văn hóa lãnh đạo để cán bộ cấp chiến lược hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, là nơi hội tụ văn hóa lãnh đạo và thực hành văn hóa lãnh đạo nhuần nhuyễn, tạo dựng được uy tín với nhân dân, cần xây dựng được đội ngũ cán bộ có tư duy và tầm nhìn chiến lược; dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động; xây dựng được văn hóa ứng xử với nhân dân, với đồng sự, với tổ chức và phải quản trị được bản thân và gia đình.
3. Giải pháp vận dụng phẩm chất “6 dám” vào xây dựng văn hóa lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược
Phẩm chất “6 dám” chính là một chỉnh thể trong nhân cách của người cán bộ năng động, dũng cảm vì lợi ích chung để phát triển đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, cần làm cho phẩm chất “6 dám” ngày càng lan tỏa, trở thành tố chất không thể thiếu của mỗi người cán bộ lãnh đạo. Nếu không làm được điều đó, đất nước sẽ không thể hội nhập và phát triển bền vững. Hơn lúc nào hết, thực tiễn của yêu cầu phát triển đất nước đòi hỏi mỗi cán bộ lãnh đạo phải phát huy phẩm chất “6 dám” trong văn hóa lãnh đạo. Thực tiễn cũng đòi hỏi bức thiết Đảng và Nhà nước phải kịp thời có chính sách, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ để tạo điều kiện cho cán bộ “6 dám” phát huy năng lực của mình góp phần phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Để phẩm chất “6 dám” trong văn hóa lãnh đạo của cán bộ cấp chiến lược ngày càng phát triển mạnh mẽ và lan tỏa ra toàn xã hội, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp:
Một là, Đảng, Nhà nước cần kịp thời có quy định tạo hành lang pháp lý khuyến khích và bảo vệ phẩm chất “6 dám” của cán bộ cấp chiến lược. Xét đến cùng, cơ chế khuyến khích cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung là một phương thức khuyến khích, phát triển nguồn nhân lực cho Đảng và đất nước; phát huy nguồn lực trí tuệ của người cán bộ. Một khi không khuyến khích được cái mới, tạo điều kiện cho tư duy đột phá là sẽ đồng nghĩa với việc tạo môi trường cho cái bảo thủ, lạc hậu, trì trệ chiếm ưu thế, cản trở sự phát triển. Cơ chế khuyến khích cán bộ còn đáp ứng yêu cầu tự thân muốn cống hiến, tự khẳng định mình của cán bộ; tạo không gian đổi mới, sáng tạo để họ có thể phát huy tối đa phẩm chất, năng lực của mình vì lợi ích chung. Kinh nghiệm của một số nước phát triển trên thế giới cho thấy, chính sách khuyến khích, bảo vệ người có năng lực, dám nghĩ, dám làm là cơ sở vững chắc để người cán bộ an tâm phấn đấu, phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ vào hoạt động của tổ chức. Vấn đề cấp thiết hiện nay là phải giải tỏa cho được tâm lý “sợ làm sai”, “sợ bị xử lý trách nhiệm”, sợ mất lòng, co cụm, đối phó, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không dám đối diện với những khó khăn, vướng mắc, không dám đấu tranh phê phán cái sai, cái xấu,… tư tưởng “vuông cho chắc” ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đang nắm giữ các vị trí chủ chốt ở các cấp. Trong tình hình ấy, chỉ khi có được hành lang pháp lý phù hợp, sẽ kịp thời khuyến khích cán bộ lãnh đạo “6 dám” mạnh dạn hơn trong công tác, có thể đề xuất, kiến nghị để mở lối những vấn đề không còn phù hợp, giải quyết những vấn đề tồn đọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, cần có cơ chế bảo vệ cán bộ lãnh đạo có hành động “6 dám” phải bao quát các mặt, các lĩnh vực với những mức độ khác nhau, đủ mạnh, là chỗ dựa, là niềm tin, đồng thời là sự khuyến khích lớn lao của Đảng, Nhà nước, nhân dân để họ quyết tâm giải quyết những nút thắt, rào cản, bế tắc, lỗi thời, những vấn đề mới chưa định hình cơ chế, nhạy cảm, tồn đọng lâu ngày… đang kìm hãm sự phát triển. Đó là cơ sở chính trị – pháp lý cho phẩm chất “6 dám” của cán bộ có cơ hội hình thành, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững. Cơ chế bảo vệ cần đưa ra các bước triển khai những vấn đề “dám” đó để bảo đảm tính dân chủ, tăng tính khoa học, giảm thiểu sự sai sót, rủi ro… cho vấn đề triển khai. Các quy định về khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám” cần đưa ra các nguyên tắc, tiêu chí, phương thức, biện pháp một cách cụ thể, chỉ rõ những trường hợp nào được khuyến khích, bảo vệ khi xảy ra rủi ro, sai sót và quy định trách nhiệm của từng chủ thể. Quy định phải rất cụ thể, càng cụ thể thì càng làm chỗ dựa tin cậy cho những hành vi “dám” diễn ra mạnh mẽ; đồng thời, làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá một cách khách quan, chính xác kết quả của những hành vi “dám” trong thực tế.
Hai là, bên cạnh việc xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung thì cũng cần có “bộ lọc” những người lợi dụng, nhân danh đột phá, sáng tạo nhưng vì động cơ vị kỷ, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ. Mặt khác, quy định đó cũng đưa ra được cơ chế xử lý, kỷ luật nghiêm khắc đối với những hành vi lợi dụng sự khuyến khích, bảo vệ những điều “dám” vì lợi ích của đất nước, của nhân dân để tiến hành những điều “dám” chỉ vì lợi ích cá nhân, phe nhóm hoặc thiếu tính thực tế, hoang tưởng, làm tổn hại đến uy tín của Đảng, Nhà nước, tài sản của nhân dân. Trường hợp “núp bóng” sáng tạo, đổi mới mà phục vụ lợi ích cá nhân thì cần xử lý thật nghiêm để răn đe, giáo dục.
Ba là, tự thân cán bộ, đảng viên cũng phải không ngừng tu dưỡng bản lĩnh chính trị, rèn luyện tính chiến đấu để trở thành một cán bộ “6 dám” đúng nghĩa. Thực sự, tính chiến đấu, sự dũng cảm, đức hi sinh là những tố chất cần phải có ở mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh hiện nay, dưới tác động của thời kỳ hội nhập quốc tế và mặt trái của cơ chế thị trường, những tố chất đó bị công kích một cách nghiêm trọng và thường xuyên. Chính vì vậy, việc tu dưỡng, rèn luyện bản thân của mỗi cán bộ, đảng viên thực sự cũng là một cuộc chiến. Chỉ có chiến thắng được chính bản thân thì cán bộ, đảng viên mới thực sự trở thành người cách mạng chân chính, xứng đáng với sự tin yêu của quần chúng nhân dân.
Tóm lại, văn hóa lãnh đạo của cán bộ cấp chiến lược ở nước ta là sự kết tinh toàn bộ các giá trị phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, nhân cách chính trị; biểu hiện ở các chuẩn mực xã hội, ở trình độ và năng lực nhận thức chính trị trên từng cương vị, trong từng lĩnh vực công tác mà họ được phân công lãnh đạo, quản lý, điều hành. Phẩm chất “6 dám” một khi thấm sâu, tạo thành bản lĩnh, cốt cách, khí chất của người cán bộ lãnh đạo sẽ được thể hiện ra bằng văn hóa lãnh đạo dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung của mỗi chủ thể chính trị. Cán bộ cấp chiến lược khi xây dựng được phẩm chất “6 dám” mới phát huy được vai trò là lực lượng lãnh đạo nòng cốt, không chỉ đem lại sự độc lập và ổn định chính trị, mà còn là cơ sở vững chắc cho việc phát triển kinh tế – xã hội, phát triển con người, xây dựng và phát triển đất nước, tạo dựng và giữ vững được niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, với Đảng, với chế độ./.
———————————-
(1) và (7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2018, tr.54 và 47
(2) và (3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.179 và 119
(4) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.8-9
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.22
(Tạp chí Khoa học chính trị Số 10_2022)







