TS. TRẦN THỊ THÚY VÂN(*)

(*) Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Ngày nhận bài: 08/7/2022      Ngày thẩm định: 15/7/2022         Ngày duyệt đăng: 20/8/2022

Tóm tắt: Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo chính là sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam. Đoàn kết tôn giáo là giá trị cốt lõi xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, không trừu tượng mà được hiển thị một cách rõ ràng, hệ thống từ cơ sở nguồn gốc hình thành cho đến nội dung, phương thức. Đặc biệt, Người luôn nhấn mạnh đến vai trò, mục tiêu của đoàn kết tôn giáo là nhằm củng cố sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, hướng đến mục tiêu cao nhất là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, với nhiều cơ hội và thách thức mới, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo vẫn nguyên giá trị, được Đảng và Nhà nước ta tiếp tục kế thừa và phát huy trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: đoàn kết tôn giáo; tín ngưỡng, tôn giáo; tư tưởng Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho hậu thế những di sản tư tưởng hết sức quý báu trên nhiều phương diện, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Mặc dù không nghiên cứu lĩnh vực này một cách chuyên sâu như một nhà khoa học chuyên ngành, nhưng trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, Người đã rút ra được nhiều quan niệm sâu sắc về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo chính là sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh cụ thể đặc thù ở Việt Nam, hướng đến mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo cơ bản tập trung ở cách tiếp cận mang tính toàn diện, đặc biệt coi tôn giáo là thành tố của văn hóa; đề cao đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc và tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng cho nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, với nhiều cơ hội và thách thức mới, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo vẫn nguyên giá trị, trở thành kim chỉ nam, phương pháp luận cách mạng, được Đảng và Nhà nước kế thừa hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật, nhằm phát huy tính tích cực của tôn giáo song hành cùng dân tộc đi lên con đường chủ nghĩa xã hội. Nội dung bài viết không phân tích sâu toàn bộ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, mà chỉ tập trung phân tích khía cạnh đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng của Đảng trong việc chỉ đạo, định hướng công tác tôn giáo cũng như xây dựng đường lối, chính sách từ những năm sau đổi mới, đặc biệt là Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Qua đó, góp phần củng cố sức mạnh khối đại đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng như đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo

Trong quá trình đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ý thức tầm quan trọng của sức mạnh đoàn kết, thể hiện rõ và thống nhất trong tư tưởng và hành động. Đương nhiên, để củng cố sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, quy tụ sức mạnh của nhân dân để đấu tranh dành độc lập thì đoàn kết tôn giáo cũng chính là một bộ phận mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Tư tưởng của Người về đoàn kết tôn giáo được thể hiện như sau:

Thứ nhất, xác định rõ nguồn gốc, cơ sở hình thành đoàn kết tôn giáo. Đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là ý niệm trừu tượng hoàn toàn mang tính chủ quan, mà được đúc rút từ những căn cứ, nguồn gốc có cơ sở, đó là: (1) Kế thừa truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc và những bài học về sức mạnh đoàn kết trong lịch sử đấu tranh cách mạng; (2) Kế thừa tinh hoa văn hóa Đông – Tây về hòa hợp tôn giáo và tính chất tồn tại đan xen, hòa đồng của các tôn giáo ở Việt Nam; (3) Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sức mạnh đoàn kết quần chúng, vai trò liên kết, tính quần chúng của tôn giáo; (4) Đoàn kết là nhu cầu của cả dân tộc để tồn tại phát triển cũng như chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ dân tộc, phá hoại thành quả cách mạng Việt Nam.

Thứ hai, khẳng định tầm quan trọng cũng như mục tiêu của đoàn kết tôn giáo trong đại đoàn kết dân tộc. Trong những ngày đầu, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, với bộn bề khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã liệt kê những vấn đề cấp bách và trong đó vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo đang bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm phá hoại thành quả cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Do vậy, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”(1). Người cũng nhấn mạnh: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”(2); đồng thời, còn nhắc nhở: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”(3). Người khẳng định rõ mục tiêu của đoàn kết tôn giáo là nhằm mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và mọi người dân đều có cơm no, áo mặc, được học hành đầy đủ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã(4).

Thứ ba, xác định một số nội dung về đoàn kết tôn giáo: (1) Đoàn kết tôn giáo là một bộ phận trong đại đoàn kết dân tộc và xác định là một chiến lược lâu dài, bền bỉ, kiên trì, không phải là thủ đoạn chính trị; (2) Đoàn kết lương giáo nhằm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ rộng rãi mọi đối tượng tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo; từ đó, chống phân biệt, chia rẽ đảng phái, giai cấp, tôn giáo, dân tộc của thực dân, đế quốc; (3) Điểm then chốt trong đoàn kết lương giáo phải dựa trên cơ sở khách quan những điểm tương đồng giữa lý tưởng cách mạng với tôn giáo và phát huy các giá trị ấy trong thực tiễn; (4) Làm tốt công tác vận động tuyên truyền quần chúng tín đồ tôn giáo để đoàn kết, đấu tranh cho độc lập của nước nhà và tự do cho tôn giáo.

Thứ tư, đề ra một số phương pháp đoàn kết tôn giáo: (1) Phải lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi căn bản của nhân dân làm “mẫu số chung” để đoàn kết tôn giáo; (2) Cần phát huy điểm tương đồng, tôn trọng sự khác biệt để đi tới thống nhất; (3) Đoàn kết tôn giáo phải dựa trên sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; (4) Luôn thể hiện sự tôn trọng, đề cao nhân cách những người sáng lập tôn giáo và vai trò của chức sắc, nhà tu hành tôn giáo; (5) Để đoàn kết tôn giáo thực sự cần quan tâm đến đời sống của đồng bào tôn giáo không chỉ tinh thần, mà còn cả vật chất, bảo đảm phần hồn thong dong và phần xác ấm no: “Các cấp ủy phải thật quan tâm đến phần đời và phần đạo của đồng bào Công giáo”(5) và cần vận động quần chúng tín đồ tôn giáo cố gắng để “sản xuất sẽ ngày càng phát triển, phần xác ta được ấm no thì phần hồn cũng được yên vui”(6). Trong điều kiện đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, chính quyền “phải ra sức củng cố hợp tác xã, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho xã viên. Đồng thời phải đảm bảo tín ngưỡng tự do”(7). Người cũng lưu ý, chất keo gắn kết đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc đó là vận động quần chúng tín đồ cùng thực hiện mục tiêu chung: “Chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do. Như thế là những việc Chính phủ và nhân dân ta làm, đều phù hợp với tinh thần Phúc âm”(8).

3. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước đã luôn đề cao bảo đảm tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo và coi đây là cơ sở, điểm kết nối của khối đại đoàn kết dân tộc. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo đã nhấn mạnh: “Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”(9). Quan điểm này xuyên suốt trong các kỳ đại hội và đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục được khẳng định: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật”(10).

Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo được thể hiện như sau:

Thứ nhất, xác định đối tượng, vị trí của đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo quan điểm của Đảng, đối tượng đoàn kết không chỉ nói chung là lương – giáo, mà còn cụ thể hơn trong nội bộ từng tôn giáo, tôn giáo này với tôn giáo khác: “Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”(11). Đoàn kết tôn giáo là một bộ phận không tách rời khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đó là môi trường, điều kiện thuận lợi để tôn giáo tự do, phát triển ổn định. Nhưng trên hết, đoàn kết tôn giáo củng cố sức mạnh của cả dân tộc, phát huy mọi tiềm lực, giá trị để cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xác định tầm quan trọng của đoàn kết dân tộc nói chung và đoàn kết tôn giáo nói riêng nên quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII cũng rất quyết liệt: “Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(12). Quan điểm của Đảng cũng đã được chế định chặt chẽ, những ai lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ đoàn kết dân tộc thì sẽ chịu hình phạt thích đáng của pháp luật, xếp vào tội “phá hoại chính sách đoàn kết” quy định tại Điều 87 của Bộ luật Hình sự  năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với nhiều mức độ khác nhau.

Thứ hai, đoàn kết tôn giáo hướng đến thực hiện “mẫu số chung” vì lợi ích quốc gia – dân tộc. Đó chính là xây dựng và bảo vệ độc lập dân tộc, đất nước hòa bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Ở các địa phương hiện nay, công tác vận động cơ bản thực hiện tốt, đã định hướng các tôn giáo hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật; cùng chung sức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội; tham gia đóng góp nguồn lực trong các hoạt động từ thiện, xã hội và các phong trào thi đua yêu nước do Trung ương và địa phương phát động… Tín đồ mỗi tôn giáo có đức tin khác nhau, nhưng đều có chung tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý thức dân tộc, thương người, nhân ái, khoan dung nên cũng có chung quyền lợi và trách nhiệm không kém phần thiêng liêng, đó là: bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước. Do đó, nhiệm vụ của công tác tôn giáo, đặc biệt công tác vận động quần chúng tín đồ tôn giáo, có trách nhiệm kết nối các tôn giáo khác nhau, xây dựng lực lượng cốt cán trong tôn giáo, tranh thủ đội ngũ chức sắc, chức việc tôn giáo để thực hiện mục tiêu chung “Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”(13). Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(14).

Thứ ba, cần thể hiện thái độ, hành động tôn trọng đức tin và các giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong xây dựng mối quan hệ đoàn kết tôn giáo. Điều này hết sức quan trọng, bởi do hạn chế trong lịch sử, có lúc, có nơi còn có những cái nhìn định kiến và hành động cực đoan đối với tôn giáo, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chia rẽ dân tộc. Công cuộc đổi mới của đất nước ta bước đầu đã đạt được những thành công trên lĩnh vực, đó là thành quả của sức mạnh đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân và trong đó có đồng bào các tôn giáo. Sở dĩ quy tụ được sức mạnh đoàn kết tôn giáo là bởi uy tín lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của chính quyền nhà nước và nỗ lực đóng góp của toàn thể nhân dân. Đặc biệt, Đảng ta luôn tôn trọng đức tin và thừa nhận các giá trị tích cực của tôn giáo: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”(15) hay trong giai đoạn hiện nay thì các giá trị văn hóa đạo đức của tôn giáo được tôn trọng, thừa nhận, được tạo điều kiện như là “nguồn lực” phát triển kinh tế, xã hội. Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”(16).

Ngoài ra, để đoàn kết tôn giáo, cần có hành lang pháp lý thể hiện sự bình đẳng trước pháp luật. Thái độ, ứng xử có những lúc có thể khúc xạ, đậm và nhạt khác nhau giữa các tôn giáo. Tuy nhiên, chính pháp luật là cán cân tạo thế cân bằng trong đoàn kết tôn giáo, không phân biệt tôn giáo số đông và số ít, nội sinh và ngoại sinh; ra đời du nhập sớm hay muộn mà phải là bình đẳng như nhau trước pháp luật: “Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”(17) và “Mọi tín đồ có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật”(18). Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật”(19). Quan điểm chỉ đạo đã được cụ thể hóa bằng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực năm 2018, gồm 9 chương và 68 điều) và được cụ thể bằng Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Bên cạnh đó, với từng lĩnh vực cụ thể của tôn giáo, Nhà nước ban hành các văn bản khác, như Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 04/02/2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành; Chỉ thị số 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 về nhà, đất liên quan đến tôn giáo. Chính các văn bản pháp luật đã neo chốt đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; điều chỉnh, thực hiện quyền và nghĩa vụ trước pháp luật như nhau của các tôn giáo và hướng các hoạt động của tôn giáo đáp ứng lợi ích của các dân tộc, đồng thời bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.

Thứ tư, để xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác vận động hàng ngũ chức sắc các tôn giáo là rất quan trọng. Bởi, đây là lực lượng có uy tín, có lúc được xem là thủ lĩnh tinh thần của đồng bào tôn giáo. Tài năng, đức độ, sự hiểu biết, trách nhiệm và lòng yêu nước của những vị chức sắc, chức việc sẽ thực sự có uy tín đối với các tín đồ. Nếu xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với đội ngũ này thì sẽ củng cố được khối đại đoàn kết dân tộc, đồng thời phát huy tốt hơn vai trò của tôn giáo trong việc tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng. Không những thế, trong công tác tôn giáo, việc bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo có những lúc bị lợi dụng hoặc cố tình hiểu sai lệch. Chính vì vậy, những hoạt động dân vận, hoạt động tuyên truyền của các cơ quan, đoàn thể là rất quan trọng, nhằm có sự thấu hiểu, kết nối, góp phần đấu tranh với “âm mưu diễn biến hòa bình”, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Hơn thế, hoạt động truyền thông đối ngoại ở nước ngoài cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Hằng năm, các cấp lãnh đạo cùng với đội ngũ chức sắc, chức việc tôn giáo tham gia các diễn đàn về nhân quyền, từ đó có những phát ngôn chính thống về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, để bạn bè quốc tế có cái nhìn đúng đắn thiện cảm, ghi nhận những đóng góp của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Thứ năm, cơ sở để xây dựng đoàn kết tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng chính là bảo đảm đời sống kinh tế – xã hội. Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cơ sở để bảo đảm đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc là “nước nhà độc lập” và đồng bào tôn giáo có cuộc sống ấm no, vì “phần xác” có được ấm no thì “phần hồn” mới thong dong. Vì vậy, để tạo nên nền tảng vững chắc, tiếp tục phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chủ trương đẩy mạnh cuộc vận động đồng bào có đạo và yêu cầu các cấp ủy, chính quyền các cấp và cán bộ phải tích cực động viên đồng bào tham gia phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Đảng ta chỉ đạo: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số”(20) và ở các địa phương đã quán triệt sâu sắc trên các lĩnh vực như giáo dục, việc làm, vay vốn ngân hàng, chuyển đổi cơ cấu việc làm… làm cho đời sống của đồng bào tôn giáo bảo đảm cả vật chất lẫn tinh thần.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước với nhiều thời cơ và thách thức, tư tưởng đoàn kết dân tộc, trong đó của đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được Đảng ta tiếp tục kế thừa, phát huy hiệu quả. Hơn nữa, khi các thế lực thù địch vẫn tiếp tục âm mưu lợi dụng tôn giáo ngày càng tinh vi, đa dạng, phối hợp liên tôn, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy giảm sức mạnh toàn dân nên trong công tác tôn giáo muốn củng cố đoàn kết tôn giáo thì giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh chính là giá trị tư tưởng quý báu cần được vận dụng sáng tạo trong bối cảnh mới. 

————————————————————-

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.8

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Sđd, tr.256

(3) và (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.13, Sđd, tr.454 và 454

(4) Xem: Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Đức Lữ, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2003

(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.14, Sđd, tr.102

(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, Sđd, tr.462

(8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, Sđd, tr.374

(9), (11), (13), (15), (17) và (18) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.49, 49, 48, 45-46, 48 và 50

(10), (12), (14), (16), (19) và (20) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.272, 171, 171, 171, 272 và 50

Tạp chí Khoa học chính trị số 06-2022