PGS, TS. LƯU NGỌC TỐ TÂM – Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm các mục tiêu trong chiến lược phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, khu vực này cũng đang đứng trước những thách thức về biến đổi khí hậu, kết cấu hạ tầng, trình độ phát triển kinh tế – xã hội… Do đó, Đảng và Nhà nước cần xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách nhằm phát triển nhanh và bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết phân tích sự vận dụng cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý nhằm phát triển nhanh và bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ khóa: Đồng bằng sông Cửu Long; kinh tế trọng điểm; phát triển nhanh và bền vững

1. Vai trò của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong việc bảo đảm mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Đảng và Nhà nước
– Tiềm năng về điều kiện tự nhiên
Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 13 tỉnh, thành phố với tổng diện tích 3,94 triệu ha và dân số 17,5 triệu người, chiếm 12% diện tích tự nhiên và 19% dân số cả nước(1). Đây là vùng có vị trí địa – kinh tế, địa – chiến lược quan trọng; là một trong những đồng bằng màu mỡ với các điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của cả nước. Với vị trí nằm gần đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế giữa Nam Á, Đông Nam Á, châu Đại Dương và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương, Đồng bằng sông Cửu Long là cửa ngõ quan trọng trong giao lưu và vận chuyển quốc tế.
Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển, kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển. Chính điều này đã tạo nên tính chất địa hình thấp và bằng phẳng, các loại đất đa dạng và phong phú phù hợp với nhiều hoạt động phát triển kinh tế – xã hội. Với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có điều kiện thuận lợi để nuôi trồng, đánh bắt và chế biến, xuất khẩu thủy, hải sản, trở thành vùng kinh tế biển trọng điểm của cả nước(2).
– Tiềm năng về điều kiện kinh tế – xã hội
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng trọng điểm phát triển kinh tế – xã hội của cả nước. Với 1,5 triệu ha đất trồng lúa, vùng Đồng bằng sông Cửu Long luôn giữ vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia(3). Đây cũng là vùng có tiềm năng phát triển kinh tế biển với hơn 700km bờ biển, 360.000km2 vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế, với nhiều bãi biển đẹp, cùng hệ thống sông ngòi, kênh rạch đa dạng với 03 khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên được công nhận là khu Ramsar của thế giới. Đây là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái hết sức quý giá, đồng thời, chứa đựng tiềm năng lớn về phát triển năng lượng tái tạo lớn, như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều…
Với tiềm năng lớn về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, những năm qua tốc độ thu hút các dự án đầu tư nước ngoài ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã phát triển nhanh chóng, có nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên lĩnh vực chế biến nông, thủy sản, phát triển đô thị, giao thông vận tải, thương mại – dịch vụ – du lịch…, giải quyết việc làm cho hơn hai triệu người lao động(4).
– Tiềm năng về nhân lực
Cùng với khu vực Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có sự đa dạng về lực lượng lao động với cơ cấu lao động trẻ, tỷ lệ dân số đang ngày càng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung ứng nguồn lao động dồi dào cho các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội. Đây cũng là vùng đất thực sự màu mỡ và đông dân nhất của nước ta. Đồng bằng sông Cửu Long có 01 thành phố trực thuộc Trung ương, có 02 thành phố đô thị loại I trực thuộc tỉnh, 13 đô thị loại II, 08 đô thị loại III, 24 đô thị loại IV(5). Vùng đất này có nhiều tiềm năng về nhân lực, vật tư, tài nguyên tự nhiên trù phú, những yếu tố vật chất, tinh thần và con người phong phú. Vì vậy, việc bảo đảm phát triển nhanh, bền vững là nội dung rất quan trọng đặt ra hiện nay của vùng.
2. Quan điểm của Đảng về phát triển nhanh và bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Với xuất phát điểm thấp, ngay từ trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng đã lựa chọn định hướng phát triển nhanh và bền vững nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Quá trình đổi mới từ Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 đến nay đã mang đến những thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ gắn liền với đẩy nhanh tiến bộ và công bằng xã hội. Quan điểm này tiếp tục được giữ vững và nêu cao qua các kỳ đại hội. Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, trước những diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh trong bối cảnh mới, Đảng ta đã chỉ rõ: “Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế – xã hội là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”(6). Để phù hợp với những yêu cầu và đòi hỏi mới của thực tiễn, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã có nhiều những điểm mới thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030 nhằm thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy đổi mới và chuyển đổi số phù hợp với yêu cầu của thời kỳ công nghệ 4.0; đồng thời, đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân nhằm tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước; đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Có thể chỉ ra một số chủ trương cụ thể sau:
Thứ nhất, ưu tiên phát triển nhanh các ngành kinh tế trọng điểm của Đồng bằng sông Cửu Long nhằm phát huy thế mạnh của địa phương trong phát triển kinh tế – xã hội
Ngày 20/01/2003, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001 – 2010. Năm 2012, Bộ Chính trị đã chỉ đạo sơ kết thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW nhằm đánh giá kết quả triển khai thực hiện, trên cơ sở đó Bộ Chính trị khóa XI ban hành Kết luận số 28-KL/TW về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2011 – 2020. Theo đó, Kết luận 28-KL/TW đã xác định vùng Đồng bằng sông Cửu Long được định hướng trở thành vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng hiện đại, phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ cho nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng cao, bền vững, phát triển mạnh kinh tế biển. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia. Phát triển mạnh dịch vụ – du lịch thành ngành kinh tế then chốt của cả vùng. Chủ động hội nhập, hợp tác kinh tế với các nước, trước hết là các nước khu vực Đông Nam Á.
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2021 – 2030) được thông qua tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã quy định rõ: cần “quan tâm hơn tới vùng Đồng bằng sông Cửu Long”(7) nhằm phát huy tốt nhất các lợi thế đặc thù của Vùng, mỗi địa phương và tăng cường tính liên kết nội vùng và liên vùng để tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, tạo không gian phát triển mới.
Thứ hai, tốc độ phát triển kinh tế – xã hội nhanh ở Đồng bằng sông Cửu Long phải gắn với các biện pháp về bảo đảm phát triển bền vững, không chấp nhận quan điểm “phát triển bằng mọi giá”
Để bảo đảm ngày càng tốt hơn các yêu cầu về nâng cao chất lượng an sinh, an toàn xã hội cho nhân dân, Việt Nam phải đẩy nhanh tốc độ phát triển để cùng hội nhập với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tất yếu cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Tuy nhiên, quá trình phát triển này không thể là quá trình “phát triển nóng”, “phát triển bằng mọi giá” – chấp nhận hy sinh mọi giá trị lợi ích, trong đó có các lợi ích về môi trường, xã hội để đánh đổi lấy các lợi ích về kinh tế. Bởi vậy, phát triển “nhanh” về tốc độ nhưng phải bảo đảm giá trị và chất lượng “bền vững” khi coi trọng các yếu tố về bảo vệ môi trường và công bằng, dân chủ trong xã hội. Nói cách khác, phát triển bền vững phải là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo điều kiện, nguồn lực cho phát triển bền vững. Trong quá trình đẩy mạnh phát triển các hoạt động kinh tế – xã hội ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh việc chú trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế trọng điểm của địa phương, cần gắn các hoạt động phát triển kinh tế với các yêu cầu về bảo vệ môi trường và bảo đảm an toàn, an sinh xã hội cho người dân. Hoạt động phát triển kinh tế – xã hội phải dựa trên nền tảng bảo đảm phát triển bền vững, coi con người là trung tâm của các mối quan tâm và sự phát triển lâu dài; không chấp nhận quan điểm phát triển bằng mọi giá.
3. Chính sách của Nhà nước về phát triển nhanh và bền vững Đồng bằng sông Cửu Long
Thứ nhất, Nhà nước đã xây dựng, ban hành và tổ chức thực thi hệ thống chính sách, pháp luật về đẩy mạnh phát triển vùng Kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long nhằm phát huy thế mạnh kinh tế – xã hội của từng địa phương
Để cụ thể hóa chính sách, pháp luật về phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, ngày 12/02/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 245/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Nhằm mục đích đẩy mạnh phát triển liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, như: Quyết định số 159/2007/QĐ-TTg ngày 10/10/2007 ban hành Quy chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương đối với các vùng kinh tế trọng điểm; Quyết định số 941/QĐ-TTg ngày 25/6/2015 về việc thành lập tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2015 – 2020. Ngày 06/4/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 593/QĐ-TTg ban hành Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016 – 2020. Theo đó, việc đẩy mạnh liên kết vùng nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của từng địa phương trong Vùng nhằm huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững. Đồng thời, tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế, nâng cao sinh kế, tạo việc làm mới, tăng thu nhập, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và bảo vệ môi trường sinh thái. Để xây dựng bộ máy quản lý hành chính nhà nước thực hiện nhiệm vụ này, ngày 24/11/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2059/QĐ-TTg về việc thành lập ban chỉ đạo, hội đồng vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2015 – 2020. Bốn vùng kinh tế trọng điểm của cả nước có Ban Chỉ đạo chung do Phó Thủ tướng làm Trưởng ban và mỗi vùng có Hội đồng vùng, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được bảo đảm thực hiện theo Quyết định số 941/QĐ-TTg ngày 25/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2015 – 2020. Gần đây là Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 12/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng điều phối vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2020 – 2025.
Thứ hai, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đẩy mạnh phát triển kinh tế ở Đồng bằng sông Cửu Long chú trọng và bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường và chất lượng cuộc sống cho người dân, bảo đảm phát triển bền vững
Hiến pháp năm 2013 cùng với hệ thống pháp luật hiện hành đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển bền vững trong việc bảo đảm các giá trị cân bằng giữa phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh cải cách tư pháp; tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm; củng cố quốc phòng, bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng.
Trước những thách thức mới, trong định hướng bảo đảm phát triển bền vững, ngày 17/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết đề ra tầm nhìn đến năm 2100, mục tiêu tới năm 2050, các quan điểm chỉ đạo, chủ trương và định hướng chiến lược phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, các giải pháp tổng thể và nhiệm vụ cụ thể trong tương lai, từ đó tạo xung lực mạnh mẽ để phát triển Đồng bằng sông Cửu Long. Ngày 13/4/2019, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 417/QĐ-TTg về việc ban hành Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu với các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Sau 02 năm Hội nghị sơ kết triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 05/9/2019 về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trong vấn đề về bảo đảm và nâng cao chất lượng an sinh và an toàn xã hội cho người dân, tại Hội nghị lần thứ ba về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (tổ chức ngày 13/3/2021 tại thành phố Cần Thơ), nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đưa ra cách tiếp cận mới với 08 chữ “G” về Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm: 1) Giao: dành nguồn lực, tập trung ưu tiên phát triển hệ thống giao thông thủy lợi, công trình giao thông; 2) Giáo: giáo dục cơ bản, giáo dục nghề, giáo dục trình độ cao; 3) Giang: tận dụng lợi thế, phát huy vai trò của các con sông để phát triển kinh tế nông nghiệp, hệ thống logistic đường sông; 4) Gắn: gắn kết Trung ương với địa phương, nhà nước với thị trường, gắn liên kết vùng; 5) Giàu: tích cực thu hút người giàu, người khá giả, doanh nghiệp có tiềm lực đến đầu tư phát triển; 6) Giỏi: tích cực thu hút những tài năng đóng góp chất xám, trí tuệ cho sự phát triển Đồng bằng sông Cửu Long; 7) Già: có chính sách chủ động cho vấn đề già hóa, hình thành mạng lưới an sinh xã hội tốt hơn; 8) Giới: thúc đẩy bình đẳng giới, tiếp cận cơ hội việc làm và phát huy vai trò, vị trí của người phụ nữ. Theo đó, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội trên tinh thần “xã hội vì người dân, vì doanh nhân”, thúc đẩy sự linh hoạt của chính sách và các yếu tố kinh tế.
Đối với thị trường lao động, các địa phương cần chú trọng đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực một cách hiệu quả, bảo đảm chất lượng, nghiên cứu các xu hướng dịch chuyển sản xuất để chuẩn bị các kỹ năng cần thiết cho người lao động thích ứng với thị trường, đáp ứng các nhu cầu của thị trường lao động thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Mặt khác, các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần tăng cường liên kết mạnh mẽ với Thành phố Hồ Chí Minh theo tinh thần bền vững, hữu cơ, cùng phát triển; phát huy vai trò Hội đồng điều phối vùng. Đặc biệt, cần phát triển mạnh mẽ các đô thị trong vùng, quy hoạch lại dân cư; cùng với quá trình đẩy mạnh hợp tác quốc tế; tranh thủ các nguồn viện trợ quốc tế để dành mọi nguồn lực cho phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang đứng trước những thách thức lớn về việc thiếu cơ chế liên kết vùng hiệu quả, kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ và chưa tương xứng với tiềm năng của vùng, tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng có xu hướng diễn biến ngày càng phức tạp… Do đó, việc đẩy mạnh hoạt động phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhằm bảo đảm thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2050 trở thành khu vực có trình độ phát triển khá so với cả nước theo mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 120/NQ-CP là một thách thức lớn đối với không chỉ chính quyền các địa phương, mà còn là nhiệm vụ chung của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp Trung ương.
4. Một số giải pháp trọng tâm nhằm đẩy mạnh phát triển nhanh và bền vững Đồng bằng sông Cửu Long
Thứ nhất, vận dụng cơ sở chính trị để tạo ra cơ sở pháp lý, bảo đảm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nhanh và bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thống nhất, hiệu quả
Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế – xã hội là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”(8). Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững… đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ bền vững môi trường cũng là quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, để phát huy tiềm năng của vùng kinh tế trọng điểm, cần tiếp tục quán triệt và tổ chức thực thi có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng về đẩy mạnh phát triển nhanh và bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, đẩy mạnh liên kết vùng, chú trọng phát huy tiềm năng và thế mạnh của địa phương trong phát triển kinh tế – xã hội. Từ đó, việc xây dựng cơ chế phát triển kinh tế – xã hội phải quán triệt trên quan điểm: kết hợp chặt chẽ giữa việc xây dựng một hệ thống pháp luật “cứng” với các chính sách quản lý “mềm” phù hợp với đặc thù của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhằm cân bằng hai lợi ích – vừa thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, phát huy tiềm năng của vùng kinh tế trọng điểm; vừa ngăn ngừa giảm thiểu tác hại đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động phát triển nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương. Một hệ thống pháp luật “cứng” là việc xây dựng một hệ thống các văn bản pháp lý quy định chi tiết và đầy đủ trách nhiệm của các đối tượng liên quan trong quá trình tiến hành các hoạt động phát triển kinh tế xã hội như: các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ thể tiến hành hoạt động phát triển kinh tế, cũng như các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm. Các chính sách quản lý “mềm” là việc thực thi pháp luật bằng các biện pháp phù hợp nhằm tạo điều kiện khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế trên cơ sở bảo đảm kiểm soát và ngăn ngừa được những thiệt hại về môi trường và xã hội.
Thứ hai, vận dụng cơ sở pháp lý, chú trọng đầu tư, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng của quá trình tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Hệ thống chính trị vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải nhận thức rõ chính sách ưu đãi và đầu tư lớn của Đảng và Nhà nước, ưu thế, tiềm năng của địa phương, nhất là tiềm năng phát triển kinh tế dồi dào, tiềm lực về yếu tố con người đang ngày càng được nâng cao để kịp thời tổ chức xây dựng và thực hiện các chính sách, biện pháp nhằm đầu tư, huy động và sử dụng hiệu quả giá trị của các nguồn lực của địa phương trong phát triển kinh tế – xã hội. Từ đó, chủ động phòng ngừa và ứng phó những sự cố về môi trường, tiến tới bảo đảm ngày càng tốt hơn chất lượng cuộc sống cho người dân.
Thứ ba, con người cần được xác định và coi trọng trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của quá trình phát triển
Trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững, Đảng và Nhà nước đều chú trọng tới mục tiêu bảo đảm ngày càng tốt hơn các điều kiện về an toàn và an sinh xã hội cho con người, nâng cao chất lượng cuộc sống của công dân. Muốn vậy, con người cần được xác định là trung tâm của các mối quan tâm và sự phát triển lâu dài, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của quá trình phát triển. Hệ thống chính trị vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần có những chính sách, biện pháp nhằm nâng cao trình độ, năng lực, bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực thi công vụ nhằm xây dựng bộ máy quản lý hành chính nhà nước có năng lực, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, đẩy mạnh nâng cao trình độ dân trí của các địa phương trong khu vực, chú trọng đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ lao động địa phương, nhằm thích ứng với những yêu cầu về phát triển kinh tế với trình độ khoa học, công nghệ cao trong bối cảnh mới.
Với những tiềm năng lớn về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội, trong thời gian qua, Đồng bằng sông Cửu Long đã nhận được sự quan tâm và các chủ trương, chính sách cụ thể về phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước trên cơ sở phù hợp với định hướng chung về phát triển nhanh và bền vững của cả nước. Đây không chỉ là nhiệm vụ của các địa phương trong Vùng, mà còn là thách thức và mục tiêu chung của cả hệ thống chính trị trong việc từng bước đẩy mạnh phát triển vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam trở thành một trong những trung tâm kinh tế – xã hội lớn của cả nước, tiến tới xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa./.

——————————————

(1) https://www.quanlynhanuoc.vn/2019/06/21/chuyen-doi-mo-hinh-phat-trien-dong-bang-song-cuu-long-thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau/
(2) https://vnmc.gov.vn/luu-vuc-song-me-cong-o-viet-nam
(3) Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp 50% sản lượng lương thực, gần 70% kim ngạch xuất khẩu thủy sản, 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước (khoảng 7 – 8 triệu tấn/năm, chiếm 1/5 sản lượng gạo thương mại toàn cầu) và 65% sản lượng thủy sản xuất khẩu của cả nước (theo: https://dangcongsan.vn/kinh-te/phat-huy-tiem-nang-the-manh-vung-dong-nam-bo-va-dong-bang-song-cuu-long-531821.html)
(4)https://nhandan.vn/tin-tuc-kinh-te/dong-bang-song-cuu-long-tao-da-phat-trien-ben-vung-302474
(5)https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_b%E1%BA%B1ng_s%C3%B4ng_C%E1%BB%ADu_Long
(6), (7) và (8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.33-34, 251 và 33-34

(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 08_2022)