PGS, TS. TRẦN QUANG PHÚ
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách hiện hành vẫn vận hành trên quan hệ hai chiều giữa Nhà nước và doanh nghiệp khởi nghiệp, chưa thể chế hóa vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn (gồm cả doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn tư nhân) và chưa lồng ghép biến số địa chính trị công nghệ vào lựa chọn chính sách. Bằng phân tích tài liệu thứ cấp và so sánh chính sách quốc tế, bài viết chỉ ra rằng Nghị quyết số 86/NQ-CP của Chính phủ về khởi nghiệp sáng tạo đã khuyến khích nhưng chưa thể chế hóa việc đặt hàng và hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo từ tập đoàn lớn; đồng thời nhận diện các xu hướng địa chính trị công nghệ và đề xuất các khuyến nghị chính sách.
Từ khóa: doanh nghiệp lớn; đổi mới sáng tạo mở; địa chính trị công nghệ; quốc gia khởi nghiệp sáng tạo
THE LEADING ROLE OF LARGE ENTERPRISES AND THE IMPACT OF TECHNOLOGICAL GEOPOLITICS ON BUILDING AN INNOVATIVE STARTUP NATION IN VIET NAM
Abstract: Research findings indicate that current policies operate primarily on a two-way relationship between the State and startups, failing to institutionalize the leading role of large enterprises (including both state-owned enterprises and private conglomerates) and to integrate the variable of technological geopolitics into policy choices. Through an analysis of secondary data and a comparison of international policies, this article shows that Government Resolution No. 86/NQ-CP on innovative startups has encouraged, but not yet institutionalized, the commissioning and formation of startups by large conglomerates. The article also identifies key techno-geopolitical trends and proposes corresponding policy recommendations.
Keywords: large enterprises; open innovation; technological geopolitics; innovative startup nation
1. Đặt vấn đề
Ngày 05/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 86/NQ-CP “ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo”. Đây là nghị quyết chiến lược đầu tiên ở cấp quốc gia dành riêng cho lĩnh vực này. Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030: tối thiểu 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, ít nhất năm doanh nghiệp định giá từ 1 tỉ USD, vốn đầu tư mạo hiểm đạt 1,5 tỉ USD, chỉ số đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu thuộc nhóm 40-45 quốc gia hàng đầu; tầm nhìn 2045: tối thiểu 100 doanh nghiệp định giá từ 100 triệu USD, vốn mạo hiểm đạt 10 tỉ USD (Chính phủ, 2026).
Đối chiếu thực tế, khoảng cách cần thu hẹp còn rất lớn: đến cuối năm 2024, Việt Nam có khoảng 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, chỉ 02 doanh nghiệp đạt quy mô kỳ lân và 11 doanh nghiệp định giá trên 100 triệu USD; vốn đầu tư mạo hiểm năm 2025 đạt khoảng 509 triệu USD, tăng 28% so với 398 triệu USD năm 2024, nhưng chỉ bằng khoảng một phần ba mục tiêu đến năm 2030 (Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia & cộng sự, 2026).
Khoảng cách đó khó thu hẹp nếu chỉ dựa vào khung chính sách hỗ trợ khởi nghiệp truyền thống. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu” đưa Việt Nam vào kỷ nguyên phát triển mới, với doanh nghiệp không phân biệt thành phần sở hữu là chủ thể trung tâm (Bộ Chính trị, 2024). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị “về phát triển kinh tế tư nhân” xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, khuyến khích hình thành tập đoàn tư nhân lớn dẫn dắt chuỗi cung ứng và công nghệ chiến lược (Bộ Chính trị, 2025). Hai nghị quyết cho thấy doanh nghiệp lớn mà chính sách khởi nghiệp cần huy động bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tập đoàn tư nhân. Cách tiếp cận phổ biến hiện nay lý giải khoảng cách bằng lý thuyết hệ sinh thái khởi nghiệp – nhiều cấu phần liên kết nhau, thiếu một cấu phần thì cả hệ thống kém hiệu quả (Isenberg, 2011) – tổ chức theo các trụ cột gần với khung của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 2012), với giả định rằng quan hệ chính yếu là quan hệ hai chiều Nhà nước – doanh nghiệp khởi nghiệp, bỏ trống vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn và tác động của địa chính trị công nghệ đến không gian chính sách.
Điều cần nhấn mạnh là hai khoảng trống này không tồn tại song hành mà quy định lẫn nhau. Cạnh tranh địa chính trị công nghệ làm tăng giá trị chiến lược của doanh nghiệp lớn trong nước: khi vốn đầu tư nước ngoài vào công nghệ nhạy cảm ngày càng chịu sàng lọc an ninh từ cả nước đi lẫn nước đến, doanh nghiệp lớn trong nước trở thành kênh gần như duy nhất có thể hấp thụ, tích lũy và giữ lại năng lực công nghệ chiến lược. Ngược lại, nếu không được trao đủ công cụ pháp lý để dẫn dắt đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp lớn sẽ không đủ năng lực tận dụng cơ hội mà địa chính trị công nghệ mở ra, đồng thời khiến Việt Nam dễ rơi vào thế bị động trước rủi ro tương ứng. Đây là mối liên hệ hai chiều mà bài viết theo đuổi xuyên suốt.
Bài viết đặt ba câu hỏi nghiên cứu: (1) Doanh nghiệp lớn dẫn dắt hệ sinh thái khởi nghiệp qua những kênh nào và đã được thể chế hóa đến đâu; (2) Những xu hướng địa chính trị công nghệ nào của giai đoạn 2024 – 2026 thu hẹp hay mở rộng không gian chính sách Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu gì đối với năng lực của doanh nghiệp lớn; (3) Khi hai khoảng trống này giao nhau thì đặt ra vấn đề gì. Mục tiêu là làm rõ cơ chế dẫn dắt của doanh nghiệp lớn, mức độ thể chế hóa trong pháp luật hiện hành, tác động của địa chính trị công nghệ và đề xuất giải pháp gắn với văn bản pháp luật cụ thể.
2. Cơ sở lý luận
2.1. Các khái niệm cơ bản
Khái niệm quốc gia khởi nghiệp (startup nation) được phổ biến từ nghiên cứu của Senor và Singer về Israel, chỉ việc chính sách công nghiệp, quốc phòng và tài chính được thiết kế đồng bộ để tối đa hóa mật độ doanh nghiệp công nghệ có khả năng thương mại hóa toàn cầu (Senor & Singer, 2009). Bài viết dùng khái niệm “quốc gia khởi nghiệp sáng tạo” theo Nghị quyết số 86/NQ-CP, đồng thời vận dụng khung của Senor và Singer để nhấn mạnh vai trò các chủ thể ngoài cặp quan hệ Nhà nước – doanh nghiệp khởi nghiệp.
Doanh nghiệp lớn gồm cả tập đoàn nhà nước giữ vai trò trụ cột công nghệ chiến lược theo Nghị quyết số 57-NQ/TW và tập đoàn tư nhân lớn được khuyến khích theo Nghị quyết số 68-NQ/TW. Việc xác định doanh nghiệp lớn như vậy cho thấy rào cản thể chế không chỉ nằm ở khu vực doanh nghiệp nhà nước mà cả doanh nghiệp tư nhân.
Địa chính trị công nghệ được hiểu là việc các quốc gia dùng công cụ đối ngoại, kiểm soát xuất khẩu, đầu tư và chuỗi cung ứng để giành lợi thế trong công nghệ nền tảng, coi năng lực công nghệ là thành tố sức mạnh quốc gia (Miller, 2022). Theo đó, doanh nghiệp lớn trong nước trở thành chủ thể mà các quốc gia theo đuổi tự chủ công nghệ đều tìm cách huy động, dù mức độ chủ động khác nhau.
Đổi mới sáng tạo mở (open innovation) là phương thức doanh nghiệp chủ động khai thác dòng tri thức và công nghệ vào ra qua ranh giới tổ chức, thay vì giới hạn trong nghiên cứu nội bộ khép kín (Chesbrough, 2003), đây là cơ chế cụ thể mà doanh nghiệp lớn dùng để dẫn dắt hệ sinh thái khởi nghiệp.
2.2. Lý thuyết nền tảng
Lý thuyết hệ sinh thái khởi nghiệp (Isenberg, 2011) là cơ sở để xác định doanh nghiệp lớn là một cấu phần bị bỏ sót trong cách tiếp cận chính sách hiện hành. Lý thuyết đổi mới sáng tạo mở (Chesbrough, 2003) lý giải cơ chế doanh nghiệp lớn chuyển từ nghiên cứu nội bộ khép kín sang tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài, qua đó doanh nghiệp khởi nghiệp trở thành một phần chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp lớn. Mô hình liên kết ba nhà: Nhà nước – trường đại học – doanh nghiệp hàm chứa nội dung tương tự, nhưng ở Việt Nam “doanh nghiệp” thường được hiểu là doanh nghiệp nhỏ tiếp nhận công nghệ, ít khi là tập đoàn lớn đặt hàng nghiên cứu – sự thu hẹp này là một nguyên nhân lý luận của khoảng trống chính sách.
Luận điểm “quốc gia khởi nghiệp” của Senor và Singer (2009) là lý thuyết nền cho khái niệm cốt lõi, trong đó doanh nghiệp lớn là chủ thể trung tâm bên cạnh Nhà nước và doanh nghiệp khởi nghiệp. Lý thuyết vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau (weaponized interdependence) của Farrell và Newman (2019), kết hợp với phân tích của Miller (2022) về kiểm soát chuỗi cung ứng bán dẫn trong cạnh tranh Mỹ – Trung, là cơ sở lý thuyết cho khái niệm địa chính trị công nghệ.
2.3. Khung phân tích mối quan hệ giữa doanh nghiệp lớn, địa chính trị công nghệ và quốc gia khởi nghiệp sáng tạo
Khung phân tích trong bài viết được trình bày theo một mạch lập luận logic thay vì sử dụng mô hình biến số. Từ bốn lý thuyết nền trên, có thể tóm tắt mối quan hệ như sau: địa chính trị công nghệ là bối cảnh vận động độc lập với chính sách Việt Nam, quy định không gian và giá trị chiến lược của doanh nghiệp lớn trong nước. Doanh nghiệp lớn là chủ thể trung tâm, vừa dẫn dắt hệ sinh thái khởi nghiệp qua bốn kênh, vừa là chủ thể trong nước có khả năng hấp thụ cơ hội và ứng phó rủi ro mà bối cảnh địa chính trị công nghệ tạo ra. Mức độ thể chế hóa vai trò này trong pháp luật đầu tư, thuế, đấu thầu là điều kiện quyết định doanh nghiệp lớn có phát huy được vai trò đó trên thực tế hay không. Ba yếu tố này quan hệ qua lại chứ không theo một chiều: bối cảnh địa chính trị công nghệ càng bất lợi thì việc thể chế hóa vai trò doanh nghiệp lớn càng cấp thiết, nhưng nếu thể chế hóa chậm thì cơ hội mà bối cảnh đó mở ra sẽ không chuyển hóa thành năng lực dẫn dắt hệ sinh thái.
3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp định tính, phân tích tài liệu thứ cấp và so sánh chính sách quốc tế, phù hợp mục tiêu xây dựng khung khái niệm hơn là kiểm định định lượng. Ba nhóm tài liệu được sử dụng gồm văn kiện Đảng và pháp luật hiện hành (Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 86/NQ-CP, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025, Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025); báo cáo thống kê trong và ngoài nước (Báo cáo Đầu tư Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam năm 2026, báo cáo của OECD, dữ liệu của Ngân hàng Thế giới) và tài liệu học thuật về hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo mở, chuỗi giá trị toàn cầu.
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Doanh nghiệp lớn đã được ghi nhận nhưng chưa được thể chế hóa đầy đủ
Nghị quyết số 86/NQ-CP đã khuyến khích địa phương dùng kinh phí mua sắm công ưu tiên sản phẩm khởi nghiệp; mỗi địa phương, tập đoàn, doanh nghiệp lớn hằng năm đưa ra ít nhất một đề bài cho khởi nghiệp sáng tạo và cùng tài trợ, sử dụng giải pháp; thúc đẩy hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp từ tập đoàn lớn, trường đại học, viện nghiên cứu (Chính phủ, 2026). Cả ba nội dung đều dùng các từ mang tính khuyến nghị như “khuyến khích”, “thúc đẩy”, “ưu tiên”, không kèm chế tài, không có ưu đãi thuế hay tín dụng cụ thể, không giao thời hạn ban hành văn bản hướng dẫn. Nói cách khác, Nghị quyết đã ghi nhận đúng ba trong bốn kênh dẫn dắt, nhưng dừng ở chủ trương khuyến khích, chưa thành công cụ pháp lý ràng buộc. Khoảng cách giữa ghi nhận và ràng buộc pháp lý này càng đáng lo ngại khi cạnh tranh địa chính trị công nghệ đang thu hẹp lựa chọn tiếp cận công nghệ từ bên ngoài: mỗi năm chậm thể chế hóa vai trò doanh nghiệp lớn là một năm Việt Nam bỏ lỡ khả năng huy động nguồn lực nội địa bù đắp cho không gian đó.
4.2. Bốn kênh dẫn dắt của doanh nghiệp lớn
Thứ nhất, quỹ đầu tư mạo hiểm doanh nghiệp: các tập đoàn lập quỹ rót vốn vào startup liên quan hoạt động cốt lõi, chấp nhận thời gian đầu tư dài và rủi ro kỹ thuật cao hơn quỹ tài chính thuần túy để tiếp cận công nghệ mới.
Thứ hai, đổi mới sáng tạo qua việc đặt các bài toán, thách thức công nghệ. Giá trị nằm ở việc chuyển bài toán từ giả định sang nhu cầu thực có dữ liệu thử nghiệm, đúng tinh thần “mỗi tập đoàn đưa ra ít nhất một đề bài” mà Nghị quyết số 86/NQ-CP đã khuyến khích.
Thứ ba, chương trình tăng tốc khởi nghiệp do doanh nghiệp lớn tổ chức, cung cấp cố vấn đã trải qua vận hành quy mô lớn.
Thứ tư, tác động mạnh nhất nhưng ít được chú ý là mua sắm từ doanh nghiệp khởi nghiệp (thương mại hoặc công), mang lại dòng tiền không pha loãng cổ phần, bằng chứng thị trường và dữ liệu vận hành thực – nhưng cũng khó tiếp cận nhất do yêu cầu lịch sử hoạt động và năng lực tài chính.
4.3. Thực trạng và rào cản pháp lý ở Việt Nam
Cả bốn kênh đã xuất hiện ở Việt Nam nhưng là các sáng kiến riêng lẻ của từng doanh nghiệp, chưa nằm trong khung khuyến khích chung. Cụ thể có ba điểm nghẽn nổi bật:
Một là, đầu tư mạo hiểm doanh nghiệp không có địa vị pháp lý riêng. Với doanh nghiệp nhà nước, khung điều chỉnh là Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025, vốn mở rộng quyền tự chủ kinh doanh nhưng vẫn duy trì nguyên tắc bảo toàn vốn áp dụng chung, trong khi đầu tư ra ngoài ngành, nghề kinh doanh chính vẫn phải báo cáo, xin phê duyệt. Bản chất đầu tư mạo hiểm là chấp nhận phần lớn khoản đầu tư không sinh lời để bù lại một số ít khoản thành công vượt trội; nếu nguyên tắc bảo toàn vốn không được cụ thể hóa thành cơ chế đánh giá theo hiệu quả danh mục trong văn bản hướng dẫn, đây sẽ tiếp tục là điểm nghẽn khiến người đại diện vốn nhà nước không có động lực phê duyệt.
Hai là, chưa có ưu đãi thuế cho chi phí đầu tư mạo hiểm hoặc mua sắm từ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo – công cụ được nhiều nước sử dụng vì chuyển việc lựa chọn cho chủ thể có năng lực thẩm định kỹ thuật tốt hơn.
Ba là, pháp luật đấu thầu chưa có cấu phần riêng cho sản phẩm khởi nghiệp sáng tạo dù đã được Nghị quyết số 86/NQ-CP khuyến khích. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy giá trị của mua sắm công như “vốn mồi”: chương trình SBIR của Mỹ (từ 1982) buộc cơ quan liên bang trích ngân sách nghiên cứu tài trợ doanh nghiệp nhỏ theo ba giai đoạn, giai đoạn cuối gắn hợp đồng mua sắm (U.S. Small Business Administration, 2024); chương trình TIPS của Hàn Quốc (khoảng 120 nhà vận hành tư nhân năm 2025) để Nhà nước đồng tài trợ theo tỉ lệ đối ứng với vốn tư nhân đã thẩm định trước (Ministry of SMEs and Startups, 2025).
Cả ba điểm nghẽn nêu trên đều nằm trong pháp luật đầu tư, thuế, đấu thầu chứ không phải chính sách khởi nghiệp, nên thường không được nhận diện khi rà soát theo trụ cột.
4.4. Địa chính trị công nghệ và bốn xu hướng
Trí tuệ nhân tạo đang định hình dòng vốn và sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu. Năm 2025, các công ty trí tuệ nhân tạo thu hút 258,7 tỉ USD trong tổng số 427,1 tỉ USD vốn đầu tư mạo hiểm toàn cầu, chiếm 61%, cao hơn gấp đôi mức 30% của năm 2022 (OECD, 2026). Trong khi đó, vốn đầu tư mạo hiểm vào lĩnh vực này tại Việt Nam đạt khoảng 130 triệu USD năm 2025, tăng từ 80 triệu USD năm 2024 và 10 triệu USD năm 2023. Dù tăng nhanh, khoản vốn này chỉ chiếm khoảng 25,5% trong tổng số 509 triệu USD vốn đầu tư mạo hiểm của Việt Nam, thấp hơn đáng kể so với tỉ trọng 61% toàn cầu (Bảo Bình, 2026). Chênh lệch đó cho thấy, dòng vốn trong nước chưa theo kịp xu hướng quốc tế, một phần do Việt Nam còn thiếu nguồn vốn đủ lớn ở giai đoạn mở rộng quy mô, trong khi vòng Series B của các dự án trí tuệ nhân tạo đòi hỏi vốn đầu tư cao.
Cạnh tranh Mỹ – Trung Quốc đã chuyển từ thuế quan sang kiểm soát trực tiếp chuỗi cung ứng. Tháng 3 và tháng 9/2025, Mỹ mở rộng cấm vận công nghệ với Trung Quốc; Trung Quốc đáp trả bằng siết cấp phép xuất khẩu đất hiếm. Ngày 01/11/2025, sau cuộc gặp tại Busan, hai bên công bố thỏa thuận đình chiến, hiệu lực từ 10/11/2025, tạm hoãn một năm việc mở rộng cấm vận và kiểm soát xuất khẩu đất hiếm, nam châm (Reuters, 2025). Ngày 24/9/2026, hai bên thông báo gia hạn thỏa thuận đến 10/01/2027 – xác nhận kịch bản gia hạn thay vì khôi phục kiểm soát, nhưng chỉ thêm hai tháng – cho thấy khuôn khổ đình chiến vẫn mang tính tạm thời và đòi hỏi chính sách công nghệ Việt Nam tiếp tục theo dõi sát các mốc tiếp theo (CNBC, 2026).
Chủ quyền dữ liệu đã có khung pháp lý cấp luật tương đối đầy đủ qua Luật Dữ liệu năm 2024 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025; khoảng trống còn lại nằm ở năng lực hạ tầng thực thi hơn là thiếu quy định. Xu hướng dịch chuyển đầu tư sang các đối tác “tin cậy” về địa chính trị đang định hình lại dòng vốn FDI công nghệ cao, trong khi mạng lưới Đối tác chiến lược toàn diện giúp Việt Nam có vị thế thuận lợi. Chuyển đổi xanh cũng đã trở thành điều kiện thương mại bắt buộc qua Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU, có hiệu lực từ năm 2026 (European Union, 2023). Cả bốn xu hướng đều tập trung lại ở một điểm: chủ thể trong nước có đủ quy mô vốn, năng lực kỹ thuật và quan hệ đối tác quốc tế để hấp thụ cơ hội hoặc phân tán rủi ro chính là doanh nghiệp lớn, chứ không phải doanh nghiệp nhỏ, đơn lẻ hay khu vực FDI thuần túy gia công.
4.5. Cơ hội trong dịch chuyển chuỗi cung ứng công nghệ
Bốn xu hướng trên tạo cơ hội có tính thời điểm: vị thế trung lập và độ mở kinh tế cho phép Việt Nam đóng vai trò điểm trung chuyển chuỗi cung ứng bán dẫn hạ nguồn và trung tâm dữ liệu khu vực – cơ hội lớn vì một khi quyết định đầu tư đã định hình, chi phí chuyển đổi khiến vị trí đó ổn định lâu dài, quốc gia bỏ lỡ sẽ phải chờ chu kỳ sau. Tuy nhiên, lợi thế vị trí trong chuỗi cung ứng không tự động chuyển hóa thành năng lực công nghệ nội sinh nếu Việt Nam chỉ đóng vai trò lắp ráp, gia công ở công đoạn giá trị gia tăng thấp: dòng vốn FDI công nghệ cao sẽ tạo việc làm và kim ngạch xuất khẩu nhưng không tạo ra doanh nghiệp công nghệ nội địa, tài sản trí tuệ trong nước hay đội ngũ kỹ sư có năng lực thiết kế. Khi chi phí lao động tăng và chuỗi cung ứng dịch chuyển tiếp, nguy cơ này càng lớn nếu không có điều kiện chuyển giao năng lực đi kèm chính sách thu hút đầu tư.
4.6. Thảo luận và khuyến nghị
Doanh nghiệp lớn là chủ thể duy nhất trong nước hội đủ điều kiện vừa hấp thụ cơ hội, vừa gánh chịu rủi ro mà địa chính trị công nghệ tạo ra, nên thiếu công cụ thể chế cho doanh nghiệp lớn đồng nghĩa với việc Việt Nam thiếu năng lực ứng phó với chính các xu hướng địa chính trị công nghệ mà bài viết đã nhận diện.
Thứ nhất, doanh nghiệp lớn là chủ thể hấp thụ công nghệ từ FDI. Liên kết chuyển giao công nghệ chỉ hình thành khi trong nước đủ năng lực làm nhà cung ứng cấp một, cấp hai – điều mà doanh nghiệp nhỏ và vừa truyền thống không đáp ứng được. Tập đoàn trong nước là một trong số ít chủ thể đủ năng lực, cùng một số doanh nghiệp FDI đã bản địa hóa lâu năm và quỹ đầu tư công nghệ nhà nước chuyên biệt có khả năng hấp thụ các công nghệ hiện đại nhất.
Thứ hai, tiêu chí lựa chọn công nghệ ưu tiên hiện bỏ qua rủi ro địa chính trị, kể cả tính bất định về thời hạn các thỏa thuận tạm hoãn kiểm soát xuất khẩu. Lĩnh vực tiềm năng cao nhưng phụ thuộc sâu vào vùng kiểm soát xuất khẩu cần được đánh giá khác với lĩnh vực tương đương nhưng ít rủi ro nguồn cung.
Thứ ba, năng lực hấp thụ vốn ở giai đoạn mở rộng quy mô. Nhiều báo cáo ghi nhận vốn mạo hiểm quốc tế tập trung ở vòng hạt giống và Series A, trong khi Series B trở lên còn thưa thớt, khiến một bộ phận doanh nghiệp khởi nghiệp chuyển pháp nhân ra nước ngoài, phổ biến là Singapore. Khoảng 90% vốn mạo hiểm vào Việt Nam năm 2021 đến từ nhà đầu tư nước ngoài, và nhà đầu tư có trụ sở tại Singapore chiếm khoảng 39% số thương vụ năm 2024 (An Hải, 2026). Quỹ đầu tư mạo hiểm doanh nghiệp trong nước, với thời gian đầu tư dài hơn, là nguồn vốn có thể bổ sung ở giai đoạn này nếu được khai thông pháp lý.
Có thể khẳng định, chính sách khởi nghiệp sáng tạo không thể tách rời chính sách công nghiệp, quản lý vốn nhà nước và đối ngoại. Vấn đề còn lại là rút ngắn khoảng cách thể chế hóa, cụ thể là chuyển chủ trương khuyến khích đã có trong Nghị quyết số 86/NQ-CP thành công cụ pháp lý ràng buộc. Vì vậy, cần:
Một là, xác lập địa vị pháp lý cho đầu tư mạo hiểm doanh nghiệp. Bổ sung vào văn bản hướng dẫn Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025 cơ chế riêng cho quỹ đầu tư mạo hiểm của doanh nghiệp nhà nước, quy định điều kiện thành lập và đánh giá hiệu quả theo danh mục trong chu kỳ nhiều năm thay vì theo từng khoản đầu tư; cho phép thí điểm ở một số tập đoàn công nghệ, viễn thông, tài chính kèm hạn mức theo tỉ lệ vốn chủ sở hữu. Với doanh nghiệp tư nhân, bổ sung hướng dẫn ưu đãi thuế theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Hai là, ưu đãi thuế cho đầu tư và mua sắm từ doanh nghiệp khởi nghiệp. Cho phép tính vào chi phí được trừ khoản chi đầu tư mạo hiểm vào startup công nghệ chiến lược, khấu trừ bổ sung cho hợp đồng mua sắm sản phẩm startup.
Ba là, mở kênh mua sắm công cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Bổ sung hình thức mua sắm cho giải pháp đổi mới sáng tạo, thay tiêu chí thời gian hoạt động bằng chất lượng kỹ thuật và kết quả thử nghiệm thực tế – vận dụng kinh nghiệm giai đoạn III của SBIR và cơ chế đồng đầu tư của TIPS; quy định tỉ lệ tối thiểu chi mua sắm công nghệ dành cho giải pháp trong nước ở giai đoạn đầu, cụ thể hóa chủ trương đã có trong Nghị quyết số 86/NQ-CP.
Bốn là, bổ sung rủi ro địa chính trị vào tiêu chí ưu tiên công nghệ. Mỗi lĩnh vực công nghệ chiến lược cần được đánh giá đồng thời theo ba chiều: tiềm năng thị trường, năng lực trong nước, mức độ phụ thuộc đầu vào bị kiểm soát xuất khẩu. Ví dụ, so với gia công phần mềm truyền thống (tiềm năng trung bình, rủi ro địa chính trị thấp), đầu tư tự thiết kế chip AI chuyên dụng có tiềm năng rất cao nhưng phụ thuộc sâu vào công cụ thiết kế vi mạch và xưởng đúc nằm trong vùng kiểm soát xuất khẩu của Mỹ; khung ba chiều cho thấy đây là đánh đổi giữa tốc độ nâng cấp năng lực với rủi ro chuỗi cung ứng, nên cần phân bổ nguồn lực theo danh mục cân bằng thay vì dồn vào lĩnh vực hấp dẫn nhất trên giấy tờ.
Năm là, gắn điều kiện chuyển giao năng lực vào chính sách thu hút đầu tư công nghệ cao. Ưu đãi cho FDI trong bán dẫn, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo – đúng nhóm rủi ro cao nhất theo khung ở khuyến nghị 4 – cần gắn cam kết đo lường được: tỉ lệ nội địa hóa nhân sự kỹ thuật, số kỹ sư được đào tạo ở khâu thiết kế, mức chi R&D thực hiện tại Việt Nam. Do thời hạn tạm hoãn kiểm soát xuất khẩu Mỹ – Trung vừa được gia hạn đến tháng 01/2027, điều kiện ưu đãi cần thiết kế linh hoạt theo kịch bản: mức cơ sở áp dụng mọi trường hợp, mức bổ sung được rà soát lại nếu môi trường kiểm soát xuất khẩu thay đổi đáng kể, thay vì cố định trong toàn vòng đời dự án.
5. Kết luận
Bài viết đã phân tích hai khoảng trống trong chính sách xây dựng quốc gia khởi nghiệp sáng tạo: vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn chưa được thể chế hóa đầy đủ và tác động của địa chính trị công nghệ chưa được lồng ghép vào lựa chọn chính sách. Hai khoảng trống này gắn chặt với nhau: chính vì địa chính trị công nghệ đang thu hẹp không gian tiếp cận công nghệ từ bên ngoài mà việc thể chế hóa vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn trở thành điều kiện tiên quyết, chứ không phải một mục tiêu chính sách độc lập có thể trì hoãn. Để doanh nghiệp lớn thực sự dẫn dắt hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, cần chuyển các định hướng khuyến khích trong Nghị quyết số 86/NQ-CP thành công cụ cụ thể trong pháp luật về đầu tư, thuế, đấu thầu. Việc thiết kế chính sách phải xác định rõ chủ thể thực hiện, gắn với kết quả chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực trong nước, đồng thời có thể đáp ứng trước những biến động chính trị công nghệ và phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam./.
Ngày nhận: 29/8/2026; Ngày phản biện: 11/9/2026;
Ngày duyệt đăng: 25/9/2026
Email liên hệ: tranquangphu.mr@gmail.com
———————————————————
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảo Bình (2026). Vốn đầu tư mạo hiểm vào startup Việt tăng mạnh, AI trở thành “tâm điểm”. https://vneconomy.vn, ngày 02/7/2026.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Chesbrough, H. (2003). Open innovation: The new imperative for creating and profiting from technology. Harvard Business School Press.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 86/NQ-CP ngày 05/4/2026 ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo.
CNBC (2026). U.S.-China trade truce extended for two months, Bessent says, as Xi begins state visit. CNBC. https://www.cnbc.com, ngày 24/9/2026.
European Union (2023). Regulation (EU) 2023/956 establishing a carbon border adjustment mechanism. Official Journal of the European Union.
Farrell, H., & Newman, A. L. (2019). Weaponized interdependence: How global economic networks shape state coercion. International Security, 44(1), 42-79.
An Hải (2026). Vì sao nhiều startup Việt chọn Singapore làm pháp nhân? VietNamNet. https://vietnamnet.vn, ngày 25/02/2026.
Isenberg, D. (2011). The entrepreneurship ecosystem strategy as a new paradigm for economic policy: Principles for cultivating entrepreneurship. Babson Entrepreneurship Ecosystem Project, Babson College.
Miller, C. (2022). Chip war: The fight for the world’s most critical technology. Scribner.
Ministry of SMEs and Startups (2025). Tech Incubator Program for Startup (TIPS) annual report 2025. Government of the Republic of Korea.
Organisation for Economic Co-operation and Development (2026). Venture capital investments in artificial intelligence through 2025. OECD Publishing. https://www.oecd.org.
Reuters (2025, November 1). US and China agree one-year truce on tariffs and export controls after Busan summit. Reuters. https://www.reuters.com.
Senor, D., & Singer, S. (2009). Start-up nation: The story of Israel’s economic miracle. Twelve.
Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Hiệp hội Đầu tư vốn tư nhân Việt Nam, Boston Consulting Group (2026). Báo cáo Đầu tư Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2026.
United Nations Conference on Trade and Development (2012). Entrepreneurship policy framework and implementation guidance. United Nations.
U.S. Small Business Administration (2024). Small Business Innovation Research (SBIR) program overview. https://www.sbir.gov.
(Tạp chí Khoa học chính trị Số 7/2026)







