ThS. PHẠM TRẦN QUỲNH MAI(*)

(*) Học viện Chính trị khu vực II,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Tính phổ biến của sự phát triển xã hội là quá trình “lịch sử – tự nhiên”. Tính phổ biến ấy hàm chứa trong nó tính đặc thù, tức có thể bỏ qua, rút ngắn sự phát triển của một hoặc một số các hình thái kinh tế – xã hội, do những điều kiện lịch sử cụ thể, mỗi quốc gia – dân tộc quy định. Vấn đề này được V.I.Lênin làm rõ cả về khả năng phát triển rút ngắn, về con đường và về phương thức “quá độ gián tiếp” lên chủ nghĩa xã hội trong quá trình lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga nửa đầu thế kỷ XX. Tư tưởng của V.I.Lênin vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa hàm chứa tính thời sự đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: chủ nghĩa xã hội; quá độ gián tiếp; V.I.Lênin

1. Đặt vấn đề
Quá độ là một trạng thái tất yếu, khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội, tư duy. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát và khẳng định sự tồn tại khách quan của thời kỳ quá độ với hình thức quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản. Đến những năm 80 của thế kỷ XIX, khi viết tác phẩm Về vấn đề xã hội ở Nga, Ph.Ăngghen đã đề cập đến khả năng quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội với điều kiện tiên quyết cho khả năng ấy ở các nước lạc hậu như nước Nga là sự thắng lợi của giai cấp vô sản ở các nước phương Tây.
Kế thừa di sản tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong Báo cáo tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản, V.I.Lênin cho rằng: “…với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô-viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(1). Chính từ nhận thức này, ông đi tới phân biệt chính xác “quá độ trực tiếp” từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và “quá độ gián tiếp” bỏ qua chủ nghĩa tư bản, từ tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Nga, V.I.Lênin đã không ngừng làm rõ nội dung của hình thức “quá độ gián tiếp” lên chủ nghĩa xã hội.
2. Tư tưởng của V.I.Lênin về quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu, hợp quy luật. Theo V.I.Lênin: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định. Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy. Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu”(2). Với nước Nga tiểu tư sản lạc hậu, thì vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội sẽ có những đặc điểm khác với các nước tiên tiến. Việc chỉ ra sự khác biệt đó, tìm ra phương thức giải quyết vấn đề thực tiễn đó, thực chất là tư tưởng về quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, với những tư tưởng cụ thể sau:
Thứ nhất, phát huy vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là phương tiện, lực lượng cơ bản nhất để xây dựng chủ nghĩa xã hội
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là phương tiện, lực lượng cơ bản nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện thành công cách mạng xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin viết: “… nếu không có sự thống trị của giai cấp vô sản trong nhà nước thì cũng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được: đó cũng là một điều sơ đẳng”(3) và “chừng nào mà giai cấp công nhân học biết cách giữ gìn trật tự nhà nước chống tình trạng vô chính phủ của tiểu tư hữu, chừng nào mà giai cấp công nhân học được cách sắp đặt tổ chức sản xuất với quy mô lớn toàn quốc, trên cơ sở chủ nghĩa tư bản – nhà nước thì khi ấy… tất cả những con chủ bài đều nằm trong tay công nhân và sẽ bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội được củng cố”(4). Công nhân phải học tập được cách sắp xếp, tổ chức của chủ nghĩa tư bản; đứng ra lãnh đạo, thống trị và hướng chính sách vào việc giải quyết trước tiên vấn đề cấp thiết nhất, “mấu chốt” nhất để đem lại lợi ích cho toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Việc giai cấp công nhân nắm và sử dụng quyền lực nhà nước là nhằm bảo vệ thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản đã chiến thắng (nhưng chưa phải là toàn thắng) với giai cấp tư sản đã thất bại (nhưng chưa phải là thất bại hoàn toàn) là đặc trưng chính trị cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, sự tồn tại đan xen giữa các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế là đặc trưng kinh tế cơ bản của hình thức quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội
Trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực (năm 1921), V.I.Lênin đã chỉ ra một cách dứt khoát đặc điểm kinh tế quan trọng nhất của thời kỳ quá độ ở nước Nga là nền kinh tế nhiều thành phần. “Vậy thì danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có”(5). Bản chất kinh tế của thời kỳ quá độ là sự tồn tại đan xen giữa các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế. Xét trong điều kiện nước Nga những năm 20 của thế kỷ XX có 05 thành phần kinh tế, bao gồm: “1) kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; 2) sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó đại đa số nông dân bán lúa mì); 3) chủ nghĩa tư bản tư nhân; 4) chủ nghĩa tư bản nhà nước; 5) chủ nghĩa xã hội. Nước Nga rộng lớn và hỗn tạp đến mức các loại hình khác nhau của kết cấu kinh tế – xã hội đều xen kẽ với nhau ở trong nó. Đặc điểm của tình hình hiện nay chính là ở đó”(6).
Tại sao quá độ lên chủ nghĩa xã hội lại tồn tại thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước và liệu có thể kết hợp, liên hợp hay phối hợp với chủ nghĩa tư bản nhà nước được không? – “Tất nhiên là được”(7). Sự tồn tại này do hai nguyên nhân cơ bản: Một là, trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, nhưng yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cơ sở kinh tế cho chủ nghĩa xã hội lại là nhiệm vụ cơ bản, cấp bách. Bởi, “xét cho cùng, thì nguồn lực lượng to lớn nhất để chiến thắng giai cấp tư sản và cái bảo đảm duy nhất cho những thắng lợi đó được bền vững và không gì phá vỡ nổi, chỉ có thể là một phương thức sản xuất xã hội mới, cao hơn, chỉ có thể là việc đem sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thay thế cho sản xuất tư bản chủ nghĩa và tiểu tư sản”(8). Hai là, chủ nghĩa tư bản nhà nước gần với chủ nghĩa xã hội chứ không phải là chủ nghĩa tư bản cả về phương diện sở hữu lẫn tổ chức, quản lý nền sản xuất vật chất.
Không thể loại bỏ ngay lập tức sự tồn tại các quan hệ tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, bởi đó là những tất yếu kinh tế, mà cần hướng sự phát triển của các quan hệ ấy vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước; rằng, chính sách ngăn cấm tự do buôn bán “là một sự dại dột và tự sát”(9), phải “không tìm cách ngăn cấm hay chặn đứng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà tìm cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước”(10). Chủ nghĩa tư bản nhà nước không chỉ là một thành phần kinh tế, mà còn là một “cầu nối”, “khoản học phí cần thiết” trong các quan hệ kinh tế đối ngoại, là nơi chuyển giao các công nghệ tiên tiến, công nghệ quản lý. Chủ nghĩa tư bản nhà nước cho phép sử dụng kinh nghiệm tổ chức quản lý của các nhà tư bản, “… những nhà tư bản chấp nhận “chủ nghĩa tư bản nhà nước”… tỏ ra có ích đối với giai cấp vô sản về phương diện họ là những người tổ chức thông minh và có kinh nghiệm trong các xí nghiệp hết sức to lớn thực sự đảm nhận được việc cung cấp sản phẩm cho hàng chục triệu người”(11). Xét trên ý nghĩa vật chất (kinh tế), chủ nghĩa tư bản nhà nước chính là “phòng chờ” để đi đến chủ nghĩa xã hội, và nếu không đi qua “phòng chờ” ấy thì cũng không thể bước vào ngưỡng cửa của chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, kế thừa, tiếp thu những tinh hoa, giá trị của nhân loại, nhất là những thành tựu đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, là một trong những phương thức quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội
Sự tiến hóa của lịch sử là quá trình biện chứng. Sự sinh thành chủ nghĩa xã hội là tổng số những kiến thức và thực tiễn mà loài người đã đạt được, đã tích luỹ từ lịch sử. Đồng thời, dưới sự mở đường của chủ nghĩa tư bản, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và công nghệ,… đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng, tạo tiền đề cần thiết cho chủ nghĩa xã hội. Do vậy, những người cộng sản là phải biết “biến toàn bộ cái vốn vô cùng phong phú về văn hóa, về trí thức và về kỹ thuật mà chủ nghĩa tư bản đã tích luỹ lại, cái vốn mà về mặt lịch sử tất phải cần thiết cho chúng ta, – biến tất cả cái đó từ chỗ là công cụ của chủ nghĩa tư bản thành công cụ của chủ nghĩa xã hội”(12), coi đó là những “viên gạch”, “vật liệu” quý báu tham gia vào quá trình phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Những thành tựu đó cần được kế thừa, phát triển. Thật vậy, “không có kỹ thuật tư bản chủ nghĩa quy mô lớn được xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại… thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”(13). Với điểm xuất phát thấp, lạc hậu cùng những hạn chế về tri thức lý luận, khoa học, kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý,… tức là thiếu những cái cơ sở cần thiết cho chủ nghĩa xã hội, mà nếu không lấp đầy sự thiếu hụt ấy, chủ nghĩa xã hội sẽ chỉ là ước muốn chứ không thể thành hiện thực, phải “dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt của nước ngoài: Chính quyền xô-viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc.etc. + + = = chủ nghĩa xã hội”(14).
Thứ tư, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại
Văn hóa là linh hồn của xã hội, là động lực phát triển của xã hội. Xây dựng một nền văn hóa phát triển cao, nền văn hóa vô sản tức là chăm lo đời sống tinh thần của xã hội. Văn hóa vô sản không phải là những tư tưởng đặc biệt nào “mà là chủ nghĩa Mác” và không phải là chế tạo một nền vô sản mới, mà là “phát triển những kiểu mẫu ưu tú, những truyền thống ưu tú, những kết quả tốt nhất của nền văn hóa hiện tồn, xét theo quan điểm thế giới quan của chủ nghĩa Mác và những điều kiện của đời sống và của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trong thời đại chuyên chính vô sản”(15). Đó là nền văn hóa chân chính, văn hóa dựa trên sự công bằng xã hội và mang đến tự do, hạnh phúc cho con người. V.I.Lênin chỉ rõ: “thế giới quan mác-xít là biểu hiện đúng đắn những lợi ích, những quan điểm và nền văn hóa của giai cấp vô sản cách mạng”(16) do ở chỗ “chủ nghĩa Mác không những đã không vứt bỏ những thành tựu hết sức quý báu của thời đại tư sản, mà trái lại, còn tiếp thu có phê phán tất cả những gì là quý báu trong hơn hai nghìn năm phát triển của tư tưởng và văn hóa nhân loại. Chỉ có tiếp tục tiến hành công tác trên cơ sở đó và theo phương hướng đó, được cổ vũ bằng kinh nghiệm của chuyên chính vô sản, tức là kinh nghiệm của trận chiến đấu cuối cùng của nó chống mọi sự bóc lột, chỉ tiếp tục công tác như thế mới có thể được coi là phát triển nền văn hóa thực sự vô sản”(17).
Và chỉ có xây dựng được nền văn hóa vô sản mới có thể thể giải quyết được mọi vấn đề trong đời sống. Để xây dựng văn hóa vô sản, “phải thấm nhuần tinh thần đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu của nền chuyên chính vô sản, tức là nhằm lật đổ giai cấp tư sản, xóa bỏ các giai cấp, xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người”(18). Quá trình đó không thể không tiếp thu, kế thừa các giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại một cách có chọn lọc. V.I.Lênin cho rằng, người cộng sản “phải tiếp thu toàn bộ nền văn hóa do chủ nghĩa tư bản để lại và dùng nền hóa đó để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải tiếp thu toàn bộ khoa học, kỹ thuật, tất cả những kiến thức, tất cả nghệ thuật. Không có cái đó, chúng ta không thể xây dựng cuộc sống của xã hội cộng sản được”(19). Và, “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”(20).
Bằng thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân thế giới những năm sau Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917), V.I.Lênin cho rằng: “…toàn bộ thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, các bậc thầy của chủ nghĩa xã hội không phải đã nói một cách vu vơ và không phải đã nhấn mạnh một cách uổng công về “những cơn đau đẻ kéo dài” khi sinh một xã hội mới; hơn nữa, xã hội mới ấy cũng lại là một cái trừu tượng chỉ có thể thể hiện trong đời sống bằng cách trải qua hàng loạt hoạt động cụ thể, muôn vẻ, không hoàn bị, nhằm sáng tạo một nhà nước xã hội chủ nghĩa thế này hay thế khác”(21). Tư tưởng V.I.Lênin đã làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề quan trọng trong lý luận về “quá độ gián tiếp” có thể áp dụng cho nước Nga nói riêng và các nước lạc hậu, tiền tư bản ở phương Đông nói chung.
Những tư tưởng của V.I.Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen với cả hình thức trực tiếp và khả năng quá độ gián tiếp. Đó là những vấn đề lý luận căn bản nhất của con đường “phát triển rút ngắn”, của phương thức “quá độ gián tiếp” lên chủ nghĩa xã hội. Với việc áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng vào phân tích chế độ kinh tế – xã hội của nước Nga nửa đầu thế kỷ XX trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử thế giới đương đại, V.I.Lênin chỉ ra những điều kiện chủ yếu để các nước tư bản kém phát triển hoặc tiền tư bản có thể vận động đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là quá độ gián tiếp, là quá trình khó khăn, phức tạp với những bước đi quanh co, kéo dài, trải qua những mắt khâu trung gian; với những giai đoạn, hình thức, giải pháp trung gian, từng bước để chủ nghĩa xã hội đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Đóng góp khoa học của V.I.Lênin về quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội là sự tiếp nối, bổ sung lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, vì thế góp phần tạo ra sức sống mới cho chủ nghĩa xã hội, khẳng định xu thế phát triển tích cực, triển vọng của chủ nghĩa xã hội đầu thế kỷ XX.
3. Ý nghĩa của tư tưởng V.I.Lênin về quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội đối với Việt Nam
Một là, tư tưởng của V.I.Lênin về quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội là cơ sở để bảo vệ chủ nghĩa xã hội và triết lý phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Bài học về sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu (năm 1991), đòi hỏi các nước xã hội chủ nghĩa còn lại cần nghiên cứu kỹ lưỡng tư tưởng của các nhà kinh điển về thời kỳ quá độ; đồng thời, tìm kiếm, lựa chọn mô hình, con đường phù hợp. Cách mạng Việt Nam hiện nay cũng không nằm ngoài khuynh hướng ấy. Quy luật phát triển vừa phổ biến, vừa đặc thù của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Thực chất của quy luật này là quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội – quá độ từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, lên chủ nghĩa xã hội.
Kế thừa tư tưởng về “quá độ gián tiếp” lên chủ nghĩa xã hội của V.I.Lênin, Đảng đã xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sự “quá độ gián tiếp”, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã sử dụng cụm từ “bỏ qua chế độ tư bản” và xác định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp”(22). Tại Đại hội lần thứ IX, Đảng chỉ rõ: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”(23).
Hiện nay, quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn là xu hướng tất yếu của lịch sử Việt Nam, phù hợp xu thế phát triển của thời đại, là “hướng đi đúng đắn, hợp quy luật”, “ý Đảng hợp với lòng Dân”(24); “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(25). Đó cũng là cơ sở lý luận để tranh luận nghiêm túc với các quan điểm đối lập phủ nhận tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và là cơ sở quan trọng để bảo vệ lý luận về chủ nghĩa về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, tư tưởng của V.I.Lênin về quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội góp phần chỉ đạo dẫn dắt việc xây dựng, hoạch định, tổ chức thực tiễn quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới
Nhận thức và quán triệt sâu sắc tư tưởng V.I.Lênin về quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội và xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, từ Đại hội lần thứ VI của Đảng đến nay, Đảng đã ngày càng hoàn thiện tư duy, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Sự vận dụng tư tưởng này của V.I.Lênin trong sự nghiệp đổi mới hiện nay được phản ánh dưới những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản đối với quá trình quá độ gián tiếp đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là nhân tố chủ quan quan trọng nhất quyết định sự thành bại của cách mạng xã hội chủ nghĩa khi tiếp cận từ góc độ chủ thể.
Thứ hai, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là thành tựu lý luận cơ bản của Đảng ta qua hơn 35 năm đổi mới (1986 – 2022), là sự bổ sung và phát triển tư duy, quan niệm của V.I.Lênin về các biện pháp kinh tế trong thời kỳ quá độ từ nước tiền tư bản, hoặc chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, kế thừa, tiếp thu tinh hoa dân tộc và trí tuệ của thời đại trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, chủ nghĩa xã hội theo cách hiểu của V.I.Lênin là tổng số giá trị phổ biến của nhân loại phục vụ cho sự nghiệp giải phóng con người. Do đó, thành quả văn minh nhân loại trên mọi lĩnh vực cần được tiếp thu, sử dụng với tinh thần “phủ định biện chứng” góp phần xây dựng cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa,… vững chắc cho chủ nghĩa xã hội.
Thứ tư, tập trung phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, động lực của sự phát triển. Xây dựng và phát triển hệ giá trị con người Việt Nam với chuẩn mực tốt đẹp là điều kiện, tiền đề để góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.
4. Kết luận
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chủ nghĩa tư bản được dự báo như một khả năng thời C.Mác và Ph.Ăngghen, được thực hiện và trở thành hiện thực thời V.I.Lênin. Đóng góp khoa học của V.I.Lênin là làm rõ nội dung, phương thức quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa xã hội hiện thực đầu thế kỷ XX.
Tư tưởng của V.I.Lênin về quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn không chỉ trong phạm vi nước Nga, mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân thế giới với tư cách là thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho việc tiến lên chủ nghĩa xã hội ở những nước lạc hậu, tiền tư bản. Vì vậy, nó là cơ sở lý luận quan trọng, là kim chỉ nam cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc khẳng định và hiện thực hóa triết lý phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

———————————————-

(1), (15), (16), (17), (18) và (20) V.I.Lênin, Toàn tập, t.41, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.295, 548, 400, 400, 399 và 362
(2) và (8) V.I.Lênin, Toàn tập, t.39, Sđd, tr.309-310 và 20-21
(3), (4), (5), (6), (7), (9), (10), (11) và (21) V.I.Lênin, Toàn tập, t.43, Sđd, tr.253, 252, 248, 248, 268, 267, 267-268, 259 và 255
(12), (13) và (14) V.I.Lênin, Toàn tập, t.36, Sđd, tr.472, 368 và 684
(19) V.I.Lênin, Toàn tập, t.38, Sđd, tr.67
(22) và (23) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.314-315 và 634
(24) và (25) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.56 và 104

(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 10_2022)