ThS. TỐNG KIM ĐÔNG(*)
ThS. TRẦN THỊ HUYỀN CHANG(**)

(*) Trường Đại học Giao thông vận tải
(**) Học viện Chính trị khu vực II,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Tự lực, tự cường là nội dung xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính ý chí tự lực, tự cường đã bồi đắp tư tưởng, con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Có thể nói, cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự biểu đạt rõ nét về ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”(1). Hiện nay, để cụ thể hóa tư tưởng tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định đây là chủ đề và điểm nhấn của Đại hội: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(2). Do đó, việc nghiên cứu nội dung tự lực, tự cường trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một lần nữa khẳng định giá trị và sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay, đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong công cuộc đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới đất nước.
Từ khóa: cán bộ, đảng viên; Hồ Chí Minh; tự lực, tự cường

1. Tự lực, tự cường trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Ý chí tự lực, tự cường là tư duy nổi bật, nhất quán trong toàn bộ hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhiều nhà lãnh đạo, nhà khoa học đã đánh giá: Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Sinh thời, trong nhiều bài nói, bài viết, tại nhiều cuộc họp, Hồ Chí Minh đã nhiều lần sử dụng từ “tự lực,” “tự cường”. Chỉ riêng trong “Hồ Chí Minh Toàn tập, bộ 15 tập, tái bản năm 2011, Hồ Chí Minh có tới 85 lần nhắc tới “tự lực”, 17 lần nhắc tới “tự lập”, 20 lần nhắc tới “tự cường”, 32 lần nhắc tới “tự chủ” và 06 lần nhắc đến “tự lực, tự cường”. Điều này cho thấy, trong tư duy Hồ Chí Minh, ý chí tự lực, tự cường là phương châm, phương pháp hành động xuyên suốt và nhất quán.
“Tự lực, tự cường là dựa vào sức lực, thế mạnh của mình mà giải quyết công việc, không phụ thuộc, dựa dẫm vào người khác”(3). Theo Hồ Chí Minh, tự lực là điều kiện cần và tự cường là điều kiện đủ: “Có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do”(4). Tự lực thường được Hồ Chí Minh dùng trong cụm từ “tự lực cánh sinh”. Trong Hồ Chí Minh toàn tập, Hồ Chí Minh đã 73 nhắc đến cụm từ này. Người nhấn mạnh: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(5). Ý thức sâu sắc ý nghĩa của tự lực, tự cường, trong suốt cuộc đời làm cách mạng với vai trò là người tìm đường, dẫn lối, Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự lực, tự cường và là tấm gương mẫu mực về ý chí tự lực, tự cường.
Thứ nhất, ý chí tự lực, tự cường là không phụ thuộc vào lực lượng bên ngoài, có quan điểm độc lập trong quan hệ quốc tế
Do chưa đánh giá hết tiềm lực và khả năng to lớn của cách mạng thuộc địa nên Quốc tế Cộng sản có lúc xem nhẹ vai trò của cách mạng thuộc địa, coi cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc. Không tán thành quan điểm đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định, với ý chí, khát vọng đấu tranh mãnh liệt, bất khuất vì độc lập, tự do, cách mạng ở các nước thuộc địa hoàn toàn có thể chủ động giành thắng lợi, không phụ thuộc việc cách mạng ở chính quốc có thắng lợi hay không. Năm 1923, trong Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(6). Điều này khẳng định rõ quyết tâm, ý chí, quan điểm tự lực, tự cường trong đấu tranh cách mạng của Hồ Chí Minh.
Quán triệt tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, từ rất sớm, Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc là mối quan hệ bình đẳng, không lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau. Năm 1924, tại Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”(7). Năm 1925, trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Người nhấn mạnh: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”(8). Chính vì vậy, cách mạng ở thuộc địa có vai trò rất lớn trong việc cùng với cách mạng vô sản ở chính quốc tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc.
Là một người dân thuộc địa, là người cộng sản và là người nghiên cứu rất kỹ về chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh khẳng định, cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước. Người nói: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do”(9). Luận điểm đó của Người xác định rõ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam không thể ngồi chờ, không ỷ lại vào cách mạng ở chính quốc, chỉ có thể dựa vào sức mình là chính: “Hỡi anh em ở các thuộc địa!… Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”(10).
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng như phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã thành công, trong khi cách mạng vô sản ở chính quốc chưa nổ ra và thắng lợi, đã chứng minh quan điểm tự lực, tự cường không phụ thuộc vào lực lượng bên ngoài, độc lập trong quan hệ quốc tế của Hồ Chí Minh là độc đáo, sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn.
Hai là, ý chí tự lực, tự cường là sự nhận thức rõ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc với chủ nghĩa quốc tế trong sáng
Ý chí tự lực, tự cường đã giúp Hồ Chí Minh sớm nhận thức rất rõ vai trò, tầm quan trọng của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chính là động lực lớn, là truyền thống quy báu của dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc ở đây là tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính. Cuối năm 1924, trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối… nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản, làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa”(11).
Để giải phóng dân tộc, nhân tố mang tính chất quyết định chính là tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước của toàn dân tộc Việt Nam: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(12).
Đối với Hồ Chí Minh, ý chí tự lực, tự cường còn phải nhận thức rõ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh mang tinh thần quốc tế trong sáng khi Người kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải con người khỏi áp bức, bóc lột. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới”(13). Đây chính là tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” nhưng “phải củng cố tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ba là, ý chí tự lực, tự cường là sự chủ động, chuẩn bị các điều kiện của cách mạng
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và vận dụng sáng tạo luận điểm chủ nghĩa Mác – Lênin: Cách mạng vô sản chỉ có thể giành thắng lợi khi có đảng cộng sản, chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức rõ vai trò lãnh đạo, có tính chất quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, mùa Xuân năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã khẳng định sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt của Hồ Chí Minh. Bởi vì, theo Hồ Chí Minh cách mạng muốn thành công “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(14). Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khẳng định đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, tinh thần, ý chí tự lực, tự cường của toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng tự lực, tự cường, chủ động chuẩn bị chu đáo các điều kiện cách mạng tiếp tục được phát triển và khẳng định trong các giai đoạn cách mạng sau này, đưa tới thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.
Bốn là, ý chí tự lực, tự cường là chú trọng phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân
Trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, nhân dân chính là mạch nguồn của sự nghiệp cách mạng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(15). Từ việc coi nhân dân là phạm trù cao quý nhất, Hồ Chí Minh chú trọng việc xây dựng, tổ chức, phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Tháng 8/1945, trong Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”(16). Tháng 7/1966, trong Lời kêu gọi Không có gì quý hơn độc lập, tự do, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”(17). Như vậy, với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng dân dân, Hồ Chí Minh ý thức rất rõ vai trò, sức mạnh to lớn của toàn dân để làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường trong giai đoạn hiện nay
Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ trở thành nhu cầu văn hóa, động lực tu dưỡng, rèn luyện của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân, mà còn là công việc, nhiệm vụ thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể chính trị – xã hội, địa phương, đơn vị. Học và làm theo Bác, từ nhiệm kỳ Đại hội lần thứ X đến nay, Đảng đã ban hành 03 chỉ thị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và nhằm đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng đã biên soạn, ban hành tài liệu chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh toàn khóa: Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã tạo nên hiệu ứng tích cực, trở thành phong trào có sức lan tỏa rộng lớn trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, góp phần nêu cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, ý chí tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm cho toàn thể cán bộ, đảng viên.
Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới với sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh ý chí tự lực, tự cường là nền tảng quan trọng để xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp. Đáng chú ý là vấn đề toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đang tác động mạnh mẽ đến Việt Nam càng đòi hỏi Việt Nam phải luôn giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường. Do đó, trên cơ sở kế thừa và bổ sung quan điểm về những nhân tố tạo thành động lực qua các kỳ đại hội, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng”(18). Đồng thời, Đại hội cũng chỉ rõ: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(19).
Quán triệt quan điểm của Đảng, để nâng cao ý chí tự lực, tự cường trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về giá trị, ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường
Nhận thức đầy đủ, sâu sắc về ý chí tự lực, tự cường trong tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng để xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, có thái độ độc lập, tự chủ, dám nghĩ, dám làm. Việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Cán bộ, đảng viên học tập tấm gương tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh, thể hiện trong cả nhận thức và hành động. Bởi vì, chỉ khi cán bộ, đảng viên nhận thức đúng về giá trị, ý nghĩa của việc học tập và làm theo thì mới chủ động, tự giác học tập, nghiên cứu và xây dựng chương trình hành động cụ thể. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường còn giúp cán bộ, đảng viên vận dụng, phát triển sáng tạo những giá trị, ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn công tác.
Hai là, các cấp ủy, tổ chức đảng cần xây dựng nội dung thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường gắn với nhiệm vụ chính trị từng địa phương
Các cấp ủy đảng, tổ chức đảng cần xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể gắn với nhiệm vụ chính trị từng địa phương để Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện sinh động trong thực tiễn. Các cấp ủy đảng, tổ chức đảng cần xây dựng nội dung tuyên truyền đa dạng phù hợp với đặc điểm của từng cơ sở, để cán bộ, đảng viên và người dân dễ hiểu và dễ triển khai.
Ba là, chú trọng đổi mới nội dung tuyên truyền việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường trong thực tiễn
Đa dạng về hình thức và nội dung tuyên truyền về tự lực, tự cường trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Quán triệt các văn bản, kế hoạch, tài liệu hướng dẫn, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của truyền thông báo chí, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, báo cáo thời sự, tọa đàm, hội thảo khoa học. Cơ quan báo chí, tạp chí chính thống cần mở các chuyên trang, chuyên mục đăng tải theo kỳ các bài viết, nội dung tuyên truyền về tấm gương tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường của cán bộ, đảng viên và quần chúng. Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam cần xây dựng các chuyên đề, chuyên mục, nhân rộng đối thoại, giao lưu với các gương điển hình tiên tiến về ý chí tự lực, tự cường dám nghĩ, dám làm của cán bộ, đảng viên. Do đó, để làm tốt những điều này, công tác tuyên truyền cần đổi mới, hoạt động hiệu quả, thiết thực hơn để tạo ra sức làn tỏa rộng lớn trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cùng học tập và làm theo.
Bốn là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trong thực hiện tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường
Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải xem việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường là động lực dẫn dắt ý chí, rèn luyện năng lực, phẩm chất, tính tiên phong, gương mẫu đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ. Bởi vì, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, tiên phong, gương mẫu, tự chủ, sáng tạo, đi đầu sẽ có sức lan tỏa, truyền cảm hứng rất lớn cho toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng học tập và làm theo. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: “người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo”(20).
Tóm lại, trong hệ thống tư tưởng toàn diện và sâu sắc của Người, tư tưởng tự lực, tự cường được đề cập sâu sắc và có giá trị thực tiễn lâu bền; không chỉ là nền tảng để giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn là những chỉ dẫn quý báu để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vận dụng sáng tạo trong giai đoạn hiện nay./.

—————————————————

(1) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.112
(2), (18) và (19) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.34, 33 và 34
(3) Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, tr.1763
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Sđd, tr.553
(5) và (12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.7, Sđd, tr.445 và 38
(6), (7), (8) và (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Sđd, tr.209, 295, 320 và 511
(9), (10) và (14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, Sđd, tr.289, 137-138 và 289
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, Sđd, tr.273
(15) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, Sđd, tr.453
(16) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Sđd, tr.593
(17) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.15, Sđd, tr.131
(20) Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc Sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, triển khai Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW

(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 09/2022)