ThS. PHAN THỊ XUÂN LAN
Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh

Tóm tắt: Đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị trực tiếp tham mưu, hoạch định, tổ chức thực thi chính sách, phản biện xã hội và đổi mới quản trị địa phương. Trong bối cảnh hợp nhất tỉnh Tây Ninh – Long An và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu phát triển đội ngũ này về số lượng, chất lượng, cơ cấu và năng lực thích ứng trở nên cấp thiết. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, lịch sử – logic, tổng kết thực tiễn và xử lý số liệu thứ cấp để làm rõ đặc trưng, kết quả, hạn chế, vấn đề đặt ra trong phát triển đội ngũ trí thức tỉnh Tây Ninh. Từ đó, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp: hoàn thiện chính sách theo vị trí việc làm; đổi mới đào tạo gắn với chuyển đổi số, đặc thù biên giới; xây dựng cơ chế đãi ngộ, trọng dụng, đánh giá theo sản phẩm công vụ; hoàn thiện Đề án vị trí việc làm phù hợp đặc thù biên giới sau hợp nhất tỉnh.
Từ khóa: bối cảnh mới; đội ngũ trí thức; hệ thống chính trị; tỉnh Long An; tỉnh Tây Ninh
Developing the contingent of intellectuals in Tay Ninh Province’s political system in the new context
Abstract: The intellectual contingent in the political system directly shapes policy consultation, formulation and implementation, social criticism, and innovation in local governance. Following the merger of Tay Ninh and Long An provinces and the operation of the two-tier local government model, developing this contingent has become urgent in terms of quantity, quality, structure, and adaptive capacity. The article employs document analysis, historical-logical analysis, practical review, and secondary-data analysis to clarify the characteristics, achievements, limitations, and issues in developing the intellectual contingent in Tay Ninh’s political system. The article proposes four groups of solutions: improving job-position-based policies; renewing training linked to digital transformation and border-area needs; building an environment and incentive mechanisms for utilizing and evaluating intellectuals through public-service outputs; and finalizing the job-position scheme to match the border area’s characteristics after the merger.
Keywords: intellectual contingent; Long An; new context; political system; Tay Ninh

1. Mở đầu
Trí thức là nguồn lực đặc biệt đối với sự phát triển của quốc gia và hệ thống chính trị: vừa là lao động trình độ chuyên môn cao, vừa trực tiếp lãnh đạo, quản lý, tham mưu chính sách, phản biện xã hội, thực thi pháp luật, kiến tạo giá trị công. Chủ trương của Đảng về phát triển đội ngũ trí thức ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới” khẳng định: “Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh toàn diện là đầu tư cho xây dựng, bồi đắp “nguyên khí quốc gia” và phát triển bền vững” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023). Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam vững mạnh toàn diện, có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, giàu lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, có nhân cách và lý tưởng cách mạng, tiêu biểu cho trí tuệ Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.123). Ở cấp địa phương, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi nhiều nơi triển khai đồng thời các nhiệm vụ lớn: sắp xếp đơn vị hành chính, đổi mới mô hình chính quyền, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Tính đến đầu năm 2025, cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị hai địa phương trước sáp nhập có trình độ đại học đạt trên 82% (sau đại học 7,62%); nhóm 30 – 40 tuổi và nhóm 40 – 50 tuổi chiếm tỉ lệ lớn (Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh, 2025). Không gian phát triển của tỉnh được mở rộng, kết hợp lợi thế kinh tế cửa khẩu, nông nghiệp, du lịch, công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, đô thị hóa ven Thành phố Hồ Chí Minh và liên kết vùng, đòi hỏi đội ngũ trí thức vừa vững vàng bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, vừa có chuyên môn sâu, tư duy liên ngành, kỹ năng số, ngoại ngữ, năng lực tham mưu chính sách và xử lý tình huống ở cơ sở. Vì vậy, phát triển đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị là yêu cầu cấp thiết để tỉnh xây dựng hệ thống chính trị địa phương trong sạch, vững mạnh.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để khái quát quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về trí thức, nhân tài, cán bộ và hệ thống chính trị, dựa trên các văn bản trọng tâm: Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 45-NQ/TW, Quyết định số 899/QĐ-TTg, Nghị định số 179/2024/NĐ-CP và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh, Long An. Phương pháp lịch sử – logic được sử dụng để nhận diện sự phát triển trong quan điểm của Đảng và cấp ủy địa phương đối với đội ngũ trí thức. Phương pháp tổng kết thực tiễn được sử dụng để khái quát kết quả đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, bố trí và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị tỉnh giai đoạn 2023 – 2025. Bài viết cũng sử dụng kết quả điều tra xã hội học từ Đề tài khoa học cấp tỉnh (2025 – 2026), “Thực trạng và giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới” làm cơ sở đánh giá tình hình phát triển đội ngũ trí thức địa phương.
2. Khái quát về đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị
C.Mác nhấn mạnh: “Phân công lao động chỉ trở thành sự phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.44-45), gắn sự hình thành tầng lớp trí thức với cấu trúc kinh tế – xã hội cụ thể. V.I.Lênin nhấn mạnh trí thức “bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc” (V.I.Lênin, 2005, tr.372). Kế thừa, phát triển những quan niệm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trí thức là hiểu biết…”; “Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.275). Người không chỉ đề cao trình độ hiểu biết mà còn coi trọng khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn. Vì vậy, trí thức không chỉ được xác định bằng trình độ học vấn hay chuyên môn, mà còn gắn với năng lực sáng tạo, khả năng vận dụng vào thực tiễn và trách nhiệm xã hội.
Đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị là một bộ phận của đội ngũ trí thức nói chung, nhưng có tính đặc thù do chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị quy định. Họ là lực lượng quan trọng tổ chức, vận hành bộ máy của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; thực thi chính sách, pháp luật, tham mưu và tư vấn, phản biện, giám sát xã hội, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học cho việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần hoàn thiện quyết sách ở tầm vi mô, vĩ mô, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
3. Tình hình phát triển đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị ở tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2023 – 2025
Cùng với việc sắp xếp, ổn định bộ máy hành chính và từng bước bố trí theo vị trí việc làm, công tác xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị của tỉnh đạt kết quả tích cực trên ba nội dung: (1) thể chế hóa chính sách; (2) đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực; (3) bố trí, sử dụng và phát huy vai trò của đội ngũ.
Một là, tỉnh đã chủ động cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và quy định của Nhà nước về phát triển, sử dụng đội ngũ trí thức, qua đó từng bước hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ
Những năm gần đây, tỉnh Long An cũ và tỉnh Tây Ninh cũ đã ban hành nhiều chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Tại Long An, Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 15/4/2021 của Tỉnh ủy “về thực hiện Chương trình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp và nông nghiệp trên địa bàn tỉnh” được cụ thể hóa bằng chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học, thu hút nhân lực công nghiệp – nông nghiệp và y tế (Tỉnh ủy Long An, 2021). Tại tỉnh Tây Ninh, Nghị quyết số 47/2022/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 của HĐND tỉnh “về chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao; hỗ trợ công chức, viên chức, nhân viên ngành Y tế tỉnh Tây Ninh”; Nghị quyết số 76/2024/NQ-HĐND ngày 28/5/2024 của HĐND tỉnh Tây Ninh sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 47/2022/NQ-HĐND…; Nghị quyết số 67/2023/NQ-HĐND ngày 08/12/2023 của HĐND tỉnh Tây Ninh quy định một số nội dung chi, mức chi cho công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, tạo cơ sở thu hút, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ, công chức, viên chức (Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh, 2022, 2023, 2024).
Sau hợp nhất, việc kế thừa và đồng bộ hóa các chính sách này có ý nghĩa quan trọng. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW tạo cơ sở để tỉnh tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng thống nhất, tránh chồng chéo, gắn phát triển đội ngũ trí thức với yêu cầu vận hành chính quyền hai cấp, chuyển đổi số và phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.
Hai là, tỉnh đã quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực đội ngũ trí thức của hệ thống chính trị
Công tác đào tạo, bồi dưỡng được triển khai với quy mô đáng kể: tỉnh có 9.473 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, trong đó 242 lượt bồi dưỡng tiếng Anh bậc 3 và 72 lượt bồi dưỡng tiếng Khmer, phù hợp yêu cầu công vụ ở địa bàn biên giới, khu vực dân tộc, tôn giáo (Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh, 2025). Tỉnh cũng cử cán bộ lãnh đạo đào tạo thạc sĩ điều hành cao cấp về chính sách công (liên kết vùng Đông Nam Bộ) tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đào tạo thạc sĩ khoa học cây trồng, lâm học và quản lý đất đai (mỗi ngành 31 trường hợp), gắn thế mạnh kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Tỉnh còn huy động các cơ quan ngoại giao, trường đại học quốc tế để bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm nước ngoài, mời chuyên gia giảng dạy cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý. Nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị tỉnh đã chuyển biến tích cực về số lượng, từng bước nâng lên về chất lượng. Đến đầu năm 2025, tỉnh có 33.740/44.213 biên chế (Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh, 2025).
Ba là, chính sách thu hút, đãi ngộ và bố trí sử dụng đội ngũ trí thức
Các chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng đã tạo điều kiện để đội ngũ trí thức nâng cao trình độ chuyên môn. Sau 03 năm triển khai Đề án phát triển nguồn nhân lực khu vực công chất lượng cao tỉnh Tây Ninh (2022 – 2025, định hướng đến năm 2030), tỉnh thu hút 03 thạc sĩ, 15 bác sĩ, 03 cử nhân loại giỏi về công tác tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp theo Nghị quyết số 47/2022/NQ-HĐND; chọn cử đào tạo 03 nghiên cứu sinh tiến sĩ, 53 thạc sĩ, 97 chuyên khoa I, 16 chuyên khoa II ngành y; hỗ trợ tự đào tạo sau đại học cho 55 trường hợp. Bình quân mỗi năm, tỉnh tổ chức khoảng 30 khóa đào tạo, bồi dưỡng 4.935 lượt cán bộ, công chức, viên chức (Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh, 2022). Các lĩnh vực y tế, công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin từng bước được chú ý hơn; việc bố trí, luân chuyển, điều động, sử dụng cán bộ trẻ sau đào tạo cũng được quan tâm, nhất là khi sắp xếp bộ máy sau hợp nhất.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, phát triển đội ngũ trí thức của tỉnh còn một số hạn chế. Chính sách thu hút, đãi ngộ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, logistics còn thiếu sức cạnh tranh so với các tỉnh, thành lân cận và khu vực tư nhân. Nhiều xã, phường còn thiếu cán bộ chuyên môn về công nghệ thông tin, chuyển đổi số, địa chính, xây dựng, tài nguyên – môi trường. Tại một số xã biên giới, vùng sâu, vùng xa, hệ thống máy tính, thiết bị văn phòng, mạng nội bộ kết nối, trao đổi thông tin liên thông giữa các cơ quan còn hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả làm việc của đội ngũ trong môi trường chuyển đổi số.
Đào tạo, bồi dưỡng chưa bám sát vị trí việc làm, năng lực thực thi và yêu cầu xử lý tình huống ở cấp xã. Các năng lực mới như phân tích dữ liệu, chính quyền số, quản trị dự án công, truyền thông chính sách, ngoại ngữ, kiến thức biên giới chưa được đầu tư bài bản. Chính sách đãi ngộ, cơ chế thu hút, trọng dụng trí thức chưa đủ sức cạnh tranh so với khu vực tư và địa phương lớn có lợi thế về thu nhập, môi trường làm việc, điều kiện nghiên cứu, cơ hội phát triển nghề nghiệp; một số chính sách hỗ trợ còn dàn trải, chưa tạo động lực cho nhóm trí thức có chuyên môn sâu hoặc đóng góp nổi bật. Đáng chú ý, 47,1% nữ trí thức được khảo sát cho biết gặp rào cản kép giữa trách nhiệm chăm sóc gia đình và công việc chuyên môn, không có đủ thời gian cho chuyên môn sâu và học tập nâng cao so với nam giới (Đề tài khoa học cấp tỉnh Tây Ninh, 2026).
Việc bố trí, sử dụng, đào tạo gắn với quy hoạch, bổ nhiệm, điều động và đánh giá kết quả công việc có nơi chưa chặt chẽ; một bộ phận trí thức chưa được bố trí đúng chuyên môn hoặc chưa có môi trường phát huy sáng kiến. Sau hợp nhất, nguy cơ lệch pha giữa chuyên môn đào tạo và vị trí việc làm đặt ra vấn đề cần giải quyết, tránh lãng phí nguồn lực. Về môi trường làm việc và cơ chế phản biện, một số cơ quan, đơn vị chưa hình thành văn hóa trọng dụng ý kiến chuyên môn, chưa khuyến khích tranh luận chính sách khoa học; hoạt động tư vấn, phản biện xã hội còn phụ thuộc nhiều vào cơ chế đặt hàng, khả năng tiếp nhận của cơ quan quản lý, trong khi tinh thần tự học, thích ứng công nghệ mới, chủ động đề xuất sáng kiến ở một bộ phận chưa thường xuyên.
Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030 chỉ rõ: “chất lượng đội ngũ không đồng đều ở một số đơn vị, địa phương; một số cán bộ, công chức, viên chức sau sắp xếp chưa đáp ứng yêu cầu”… “cán bộ làm việc được trong môi trường quốc tế chưa đạt mục tiêu đề ra” (Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, 2025, tr.33). Kết quả khảo sát cũng cho thấy, 47% trí thức tự đánh giá trình độ ngoại ngữ ở mức bình thường, 39% tự đánh giá khả năng thích ứng, đổi mới trong môi trường quốc tế chỉ ở mức trung bình hoặc trung bình khá (Đề tài khoa học cấp tỉnh Tây Ninh, 2026). Điều này cho thấy khoảng cách về trình độ chuyên môn, năng lực thực thi và thiếu liên kết đào tạo chuyên sâu, bồi dưỡng ngắn hạn ở nước ngoài. Kỹ năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa đồng đều giữa các vị trí công tác; năng lực dự báo, tham mưu sâu ở một số thời điểm còn hạn chế.
Nguyên nhân của các hạn chế xuất phát từ yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, quá trình hợp nhất tỉnh, vận hành chính quyền hai cấp, tinh giản biên chế, chuyển đổi số diễn ra đồng thời, tạo áp lực lớn với tổ chức bộ máy, đội ngũ, khiến dự báo nhu cầu nhân lực chuyên môn sâu chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới. Về chủ quan, một số cấp ủy, người đứng đầu có lúc, có nơi chưa coi trọng đúng mức việc lãnh đạo, chỉ đạo đào tạo đội ngũ trí thức, nhận thức về vai trò của đội ngũ này chưa đầy đủ, đôi khi còn hành chính hóa trong sử dụng. Chiến lược tổng thể về phát triển đội ngũ còn hạn chế, thiếu đồng bộ; đến nay, tỉnh và cả nước chưa có chính sách riêng cho đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị, còn lồng ghép trong chính sách chung đối với trí thức. Về phía đội ngũ trí thức, tinh thần tự học, tự rèn luyện ở một bộ phận, nhất là trí thức trẻ, chưa cao; cơ chế thu hút, môi trường làm việc tại một số nơi chưa đủ sức cạnh tranh để giữ chân người tài. Từ thực tiễn này, cần thực hiện một số giải pháp để phát triển đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu mới.
4. Một số giải pháp phát triển đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị ở tỉnh Tây Ninh
Thứ nhất, hoàn thiện chính sách phát triển đội ngũ trí thức theo vị trí việc làm
Tập trung xây dựng khung chính sách phát triển đội ngũ trí thức gắn với vị trí việc làm và yêu cầu phát triển của tỉnh sau hợp nhất. Tỉnh cần rà soát cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuyên môn cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; phân loại theo lĩnh vực chuyên môn, độ tuổi, trình độ, năng lực số, ngoại ngữ, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng đảm nhận nhiệm vụ mới.
Trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở dữ liệu về đội ngũ trí thức, kết nối với dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức và vị trí việc làm để phát hiện đúng người có năng lực, bố trí đúng việc, đào tạo đúng nhu cầu và đánh giá đúng kết quả. Chính sách đãi ngộ cần chuyển từ hỗ trợ bình quân sang hỗ trợ có điều kiện, gắn với cam kết cống hiến, nhiệm vụ cụ thể và sản phẩm đầu ra. Với các lĩnh vực đặc thù, như chuyển đổi số, kinh tế cửa khẩu, logistics, quản lý biên giới, y tế, giáo dục, môi trường, cần có cơ chế thu hút linh hoạt, phù hợp với Nghị định số 179/2024/NĐ-CP và Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chính phủ, 2024; Thủ tướng Chính phủ, 2023).
Thứ hai, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng gắn với chuyển đổi số và đặc thù biên giới
Tỉnh cần chuyển đào tạo, bồi dưỡng từ các lớp ngắn hạn, nặng lý thuyết sang phương thức linh hoạt “vừa làm vừa học”, lồng ghép vào xử lý công việc hằng ngày để nâng cao khả năng vận dụng vào thực tiễn công vụ, sát từng địa bàn, vị trí việc làm, nhất là ở cấp xã. Đồng thời, mở rộng điều kiện hưởng chính sách đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, kể cả tự đào tạo; ưu tiên đào tạo lại các lĩnh vực đang thiếu hụt (công nghệ thông tin, chuyển đổi số, kinh tế cửa khẩu, logistics, khoa học kỹ thuật) để khắc phục mất cân đối cơ cấu ngành nghề; bồi dưỡng kỹ năng mềm, đặc biệt là ngoại ngữ, hướng tới cán bộ chủ chốt thành thạo tiếng Anh và phổ cập tiếng Khmer cho xã biên giới (Tỉnh ủy Tây Ninh, 2024).
Tăng cường liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức trong nước và quốc tế để tổ chức khóa học, hội thảo, trao đổi kinh nghiệm; mở rộng đào tạo ở nước ngoài hoặc liên kết chuyên gia quốc tế để khắc phục hạn chế về tầm nhìn chiến lược, kinh nghiệm quản trị. Kết quả khảo sát cho thấy, 69,5% ý kiến khẳng định sự phát triển đội ngũ phụ thuộc lớn nhất vào sự quan tâm đầu tư của lãnh đạo mỗi cơ quan (Đề tài khoa học cấp tỉnh Tây Ninh, 2026); do đó, cấp ủy, chính quyền cần xác định đầu tư liên tục cho đào tạo, bồi dưỡng là nhiệm vụ thường xuyên.
Xây dựng đề án đội ngũ trí thức theo khối Đảng, khối chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội hoặc theo từng lĩnh vực, làm cơ sở cho quy hoạch, đào tạo đúng thế mạnh của tỉnh và đặc thù từng địa bàn. Đồng thời, chú trọng đề án phát triển nguồn trí thức trẻ kế cận dài hạn: phát hiện, bồi dưỡng sớm từ bậc trung học qua các sân chơi, diễn đàn chuyên môn, gắn chất lượng đào tạo với đãi ngộ tương xứng, bảo đảm kế thừa, phát triển bền vững của đội ngũ. Sau mỗi chương trình đào tạo, cần đánh giá bằng sản phẩm cụ thể như đề án cải tiến quy trình, sáng kiến chuyển đổi số, báo cáo phân tích chính sách, mô hình phục vụ người dân; cơ quan sử dụng cán bộ chịu trách nhiệm bố trí công việc phù hợp để chuyển hóa thành hiệu quả công vụ.
Thứ ba, xây dựng môi trường, cơ chế và chính sách đãi ngộ, thu hút người tài; bố trí, sử dụng đội ngũ trí thức
Khảo sát cho thấy, để trí thức gắn bó lâu dài với khu vực công, cần đáp ứng ba yếu tố cốt lõi: (1) văn hóa công sở cởi mở, thân thiện; (2) quản trị, điều hành minh bạch, dân chủ (78% ý kiến kỳ vọng); (3) chính sách đãi ngộ cùng trang thiết bị làm việc hiện đại (78% ý kiến đánh giá là yếu tố quyết định). Bên cạnh đó, 70,6% cho rằng môi trường làm việc ổn định, cơ hội thăng tiến quan trọng không kém chính sách tài chính; 68,5% mong muốn được cống hiến, áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn (Đề tài khoa học cấp tỉnh Tây Ninh, 2026). Vì vậy, cải cách tiền lương cần đặt trong tổng thể cải cách quản lý, tinh giản biên chế theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng, gắn với xây dựng văn hóa công sở dân chủ, minh bạch.
Cụ thể hóa cơ chế đãi ngộ đặc thù, đủ sức cạnh tranh để thu hút trí thức giỏi từ ngoài tỉnh, nhất là khi áp lực cạnh tranh tuyển chọn vị trí việc làm ở mức cao đến rất cao theo 62% ý kiến khảo sát (Đề tài khoa học cấp tỉnh Tây Ninh, 2026). Đối với chuyên gia nước ngoài, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ thị thực; đối với nhân tài trong nước, ưu tiên bảo đảm điều kiện làm việc, chỗ ở. Cần khen thưởng kịp thời đội ngũ chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; khắc phục tâm lý trì trệ, đề cao trách nhiệm.
Cần xây dựng hệ thống đánh giá theo kết quả đầu ra và số hóa toàn diện quản trị nhân sự (75,6% ủng hộ số hóa toàn diện, 75,2% ủng hộ chuyển đào tạo hình thức sang vừa làm vừa học gắn với đánh giá thực chất) (Đề tài khoa học cấp tỉnh Tây Ninh, 2026), triển khai định kỳ theo chỉ số hiệu quả công việc (KPI) làm cơ sở cho thu nhập tăng thêm, khen thưởng, quy hoạch, thăng tiến. Cùng với đó, cần có chính sách hợp lý trong đào tạo, sử dụng trí thức nữ, hỗ trợ cân bằng công việc chuyên môn và gia đình; vận dụng Nghị định số 249/2025/NĐ-CP ngày 19/9/2025 của Chính phủ quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phù hợp với nhu cầu nhân lực của tỉnh.
Thứ tư, tiếp tục rà soát, hoàn thiện Đề án vị trí việc làm sau hợp nhất tỉnh và trong quá trình vận hành mô hình chính quyền hai cấp bảo đảm bổ sung đủ số lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; bố trí đúng người, đúng việc, đúng chuyên môn được đào tạo, tránh lãng phí nguồn lực
Bổ sung tiêu chí “năng lực biên mậu” (giao tiếp tiếng Khmer trong xử lý công vụ; am hiểu quy định, quy chế biên giới, cửa khẩu; kỹ năng dân vận ở địa bàn đa dân tộc, đa tôn giáo) vào khung đánh giá riêng cho vị trí tại xã biên giới. Trước mắt, ưu tiên điều động, luân chuyển cán bộ từ nơi thừa sang nơi thiếu trên cơ sở năng lực thực tế, đồng thời đào tạo lại cán bộ mới đảm nhận nhiệm vụ trong bộ máy mới. Thực hiện các khâu đột phá trong tuyển chọn, đánh giá để tăng tỉ lệ trí thức trẻ, tư duy đổi mới, chuyên môn cao vào quy hoạch lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2028 – 2030, bảo đảm kế thừa, ổn định.
Tạo môi trường thực chất để trí thức đóng góp sáng kiến, tham gia hoạch định chính sách và được trọng dụng ý kiến chuyên môn. Tiếp tục kiện toàn nhân sự, mở rộng kênh tư vấn, phản biện độc lập với bộ máy hành chính; hoàn chỉnh quy phạm pháp luật về hoạt động tư vấn, phản biện, giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, bảo đảm chủ trương, chính sách khi thực thi đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tây Ninh, 2025).
5. Kết luận
Phát triển đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị ở tỉnh Tây Ninh có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh hợp nhất tỉnh, vận hành chính quyền hai cấp, chuyển đổi số và phát triển không gian kinh tế – xã hội mới. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉnh đã có chuyển biến tích cực trong thể chế hóa chủ trương, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và phát huy vai trò tư vấn, phản biện của đội ngũ trí thức; tuy nhiên, cần tiếp tục khắc phục hạn chế về chính sách đặc thù, cơ cấu chuyên môn sâu, năng lực số, ngoại ngữ, môi trường trọng dụng và cơ chế đánh giá theo sản phẩm công vụ. Trong giai đoạn mới, tỉnh Tây Ninh cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu và khung chính sách phát triển đội ngũ trí thức theo vị trí việc làm, lấy năng lực thực thi, sản phẩm công vụ và đóng góp cho phát triển địa phương làm căn cứ cho đào tạo, bố trí, sử dụng, đãi ngộ và trọng dụng./.

Ngày nhận: 16/8/2026; Ngày phản biện: 12/9/2026;
Ngày duyệt đăng: 25/9/2026
Email liên hệ: xuanlanchinhtrilongan@gmail.com

————————————-
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh (2025). Báo cáo thống kê đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị tỉnh Tây Ninh và Long An trước hợp nhất. Tài liệu lưu hành nội bộ.
V.I. Lênin (2005). Toàn tập (Tập 8). Nxb Tiến bộ, Nxb Chính trị quốc gia.
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia.
Chính phủ (2024). Nghị định số 179/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 quy định chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội.
Chính phủ (2025). Nghị định số 249/2025/NĐ-CP ngày 19/9/2025 quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (2025). Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025-2030.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đề tài khoa học cấp tỉnh Tây Ninh (2026). Thực trạng và giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Báo cáo kết quả nghiên cứu.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia.
Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh (2022). Nghị quyết số 47/2022/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 về chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao; hỗ trợ công chức, viên chức, nhân viên ngành Y tế tỉnh Tây Ninh.
Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh (2023). Nghị quyết số 67/2023/NQ-HĐND ngày 08/12/2023 quy định một số nội dung chi, mức chi cho công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh (2024). Nghị quyết số 76/2024/NQ-HĐND ngày 28/5/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 47/2022/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh về chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao; hỗ trợ công chức, viên chức, nhân viên ngành Y tế tỉnh Tây Ninh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tây Ninh (2025). Báo cáo kết quả hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2025. Tài liệu lưu hành nội bộ.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 31/7/2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Tỉnh ủy Long An (2021). Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 15/4/2021 về đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp, nông nghiệp của tỉnh Long An.
Tỉnh ủy Tây Ninh (2024). Nghị quyết số 33-NQ/TU về phổ cập tiếng Khmer cho cán bộ, công chức tại địa bàn biên giới.

(Tạp chí Khoa học chính trị Số 7/2026)