ThS. NGUYỄN VĂN TUẤN
Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên
Tóm tắt: Giám sát của Nhân dân đối với hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã là phương thức kiểm soát quyền lực từ bên ngoài bộ máy hành chính, có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Bài viết làm rõ khung lý luận về vai trò giám sát của Nhân dân, đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện ở cấp xã, từ đó đề xuất nhóm giải pháp gắn với trách nhiệm chủ thể, biện pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện, góp phần xây dựng chính quyền cơ sở liêm chính, minh bạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Từ khóa: nhân dân; giám sát; công chức cấp xã; chính quyền địa phương 2 cấp
PROMOTING THE PEOPLE’S OVERSIGHT OF THE PERFORMANCE OF OFFICIAL DUTIES BY COMMUNE-LEVEL CIVIL SERVANTS
Abstract: People’s oversight of the performance of official duties by commune-level civil servants is a mechanism of power control from outside the administrative apparatus, playing an important role in preventing corruption and negative practices and enhancing the effectiveness and efficiency of local governance. The article clarifies the theoretical framework of people’s oversight, assesses achievements, limitations and their causes at the commune level, and proposes groups of solutions linked to the responsibilities of each actor, implementation measures, and conditions for effective execution, contributing to building an ethical, transparent, effective and efficient grassroots government.
Keywords: People; oversight; commune-level civil servants; two-tier local government model
1. Đặt vấn đề
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, có quyền kiểm soát hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Công chức cấp xã là đội ngũ trực tiếp thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giải quyết công việc hành chính gắn với đời sống hằng ngày của người dân. Do đó, chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức cấp xã tác động trực tiếp đến hiệu lực quản lý nhà nước và niềm tin của Nhân dân đối với chính quyền cơ sở.
Giám sát của Nhân dân là phương thức kiểm soát quyền lực từ bên ngoài hệ thống hành chính, góp phần phát hiện sớm sai phạm, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kỷ luật, kỷ cương hành chính. Trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 01/7/2025 (Bộ Chính trị, 2025; Quốc hội, 2025b), cấp xã được trao thêm nhiều thẩm quyền, gia tăng khối lượng công việc và mức độ tiếp xúc trực tiếp với người dân, kéo theo nguy cơ phát sinh tiêu cực, nhũng nhiễu nếu thiếu cơ chế kiểm soát hữu hiệu từ bên ngoài. Trong khi đó, thực tiễn triển khai giám sát của Nhân dân ở cấp xã vẫn còn hạn chế về nhận thức, phương thức tham gia, công khai thông tin và trách nhiệm giải trình. Vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ vai trò, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát huy hiệu quả giám sát của Nhân dân đối với hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã là yêu cầu khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng với việc xây dựng chính quyền cơ sở liêm chính, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả, gần dân trong giai đoạn mới.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phân tích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, hệ thống văn bản pháp luật (Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025), các quyết định, kết luận của Bộ Chính trị (Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW, Kết luận số 183-KL/TW) và các báo cáo tổng kết 10 năm, 13 năm thực hiện những văn bản này. Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để xây dựng khung lý luận về vai trò giám sát của Nhân dân; phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng để đối chiếu số liệu minh chứng từ báo cáo toàn quốc và một số địa phương; phương pháp tiếp cận hệ thống được vận dụng để phân tích thực trạng theo khung cấu phần đã xác lập, làm cơ sở đề xuất giải pháp gắn với trách nhiệm chủ thể, biện pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện.
2. Vai trò giám sát của Nhân dân đối với hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã
Giám sát của Nhân dân đối với hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài hệ thống hành chính nhằm theo dõi, phát hiện, đánh giá và phản ánh về tính hợp pháp, hợp lý trong hành vi công vụ của công chức tại cơ sở. Đây là một thiết chế dân chủ có tính nguyên tắc, gắn liền với bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân.
Quan điểm xuyên suốt của Đảng là “Dân là gốc”, Nhân dân là trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới; phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được phát triển thành “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.96), trong đó giám sát của Nhân dân là mắt xích không thể tách rời trong mối quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân. “Dân biết” là điều kiện tiên quyết, “dân bàn”, “dân làm” là sự tham gia trực tiếp, “dân kiểm tra, dân giám sát” là cơ chế phản hồi, kiểm chứng, “dân thụ hưởng” là mục tiêu cuối cùng.
Nhân dân giám sát theo hai phương thức: giám sát trực tiếp của công dân (phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, theo dõi quá trình giải quyết công việc hành chính) và giám sát gián tiếp, có tổ chức, thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, được xác định là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.182). Hai phương thức này bổ sung cho nhau: giám sát cá nhân linh hoạt, gắn với vụ việc cụ thể; giám sát có tổ chức mang tính hệ thống, có khả năng kiến nghị ở cấp độ chính sách.
Về đối tượng giám sát, hành vi thực thi công vụ của công chức cấp xã được xem xét trên ba nội dung: tính hợp pháp, tuân thủ pháp luật, quy trình, đặc biệt trong quản lý đất đai, tài chính ngân sách, an sinh xã hội; tính hợp lý, hiệu quả, mức độ phù hợp, kịp thời trong giải quyết thủ tục hành chính và đạo đức công vụ, thái độ phục vụ tại bộ phận “một cửa”.
Giám sát của Nhân dân chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi được thể chế hóa cụ thể, gắn với công khai, minh bạch thông tin, trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.287) và cơ chế bảo vệ người giám sát trước tâm lý e ngại bị trù dập. Đặc biệt, kết quả giám sát phải được gắn kết hữu cơ với công tác cán bộ “lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.238). Đây là khâu “đầu ra” quyết định động lực và ý nghĩa thực tiễn của toàn bộ cơ chế giám sát.
Như vậy, khung lý luận về vai trò giám sát của Nhân dân đối với công chức cấp xã gồm năm cấu phần có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau: (1) Cơ sở chính trị, nhận thức “Dân là gốc”; (2) Cơ sở pháp lý, thể chế hóa, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; (3) Chủ thể thực hiện – công dân và tổ chức đại diện; (4) Đối tượng giám sát, tính hợp pháp, hợp lý, đạo đức công vụ; (5) Cơ chế bảo đảm hiệu lực, bảo vệ người giám sát, gắn kết với công tác cán bộ.
3. Thực trạng phát huy vai trò giám sát của Nhân dân đối với hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã
Nhận thức, quan điểm “Dân là gốc” được quán triệt rộng rãi trong sinh hoạt chính trị ở cơ sở. Nhiều địa phương đã công khai các thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống Nhân dân, như quy hoạch, bồi thường, thu hồi đất, thủ tục hành chính qua niêm yết, loa truyền thanh, họp dân, cổng thông tin điện tử (Quang Minh, 2025). Tuy nhiên, một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý e dè, thụ động, ngại va chạm, chưa chủ động thực hiện quyền giám sát; ở phía công chức, vẫn còn hiện tượng quan liêu, xa dân, thậm chí nhũng nhiễu, gây bức xúc, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân.
Nhiều địa phương đã tuyên truyền, phổ biến Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở và ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính, góp phần cải thiện chỉ số hài lòng của người dân, các địa phương có Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) cao nhất, gồm: Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Hưng Yên và Huế, với mức độ hài lòng chung của cả nước đạt 83,09% (B.S, 2026). Tuy nhiên, việc cụ thể hóa phạm vi, nội dung, quy trình giám sát tại nhiều nơi vẫn chung chung; danh mục nội dung người dân có quyền giám sát trực tiếp trong các lĩnh vực nhạy cảm chưa được ban hành đầy đủ; công khai kết quả xử lý kỷ luật, phản hồi kiến nghị còn chậm; nền tảng công nghệ hỗ trợ giám sát trực tuyến chưa phổ cập đồng đều.
Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội qua tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW tại các địa phương đã ghi nhận những chuyển biến bước đầu. Tại Hậu Giang, trong 10 năm, các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ đã tổ chức giám sát 648 cuộc, gồm 18 cuộc cấp tỉnh, 91 cuộc cấp huyện và 539 cuộc cấp xã (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, 2023), trong đó có công chức cấp xã. Kết quả tổng kết 13 năm thực hiện hai quyết định trên phạm vi cả nước tiếp tục khẳng định xu hướng đi vào nền nếp, sâu rộng, thiết thực: cả nước đã tổ chức 825.747 cuộc giám sát các cấp, trong đó cấp Trung ương 32 cuộc, cấp tỉnh 36.202 cuộc, cấp huyện, xã 789.513 cuộc; riêng Hội Nông dân Việt Nam chủ trì 20.996 cuộc và tham gia 40.180 đoàn giám sát; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã góp ý cho tổ chức đảng với 328.125 lượt ý kiến (Tiến Đạt, 2026). Ở cấp cơ sở, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng tại Hà Nam (cũ) đã giám sát gần 150 cuộc tại 75 công trình, dự án (Anh Vũ, 2025); tại Quảng Trị, giám sát 812 cuộc, phát hiện, kiến nghị xử lý 65 vấn đề (Đức Việt, 2025).
Tuy nhiên, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc nắm bắt tình hình cơ sở ở vùng sâu, vùng xa gặp nhiều trở ngại; trình độ dân trí không đồng đều, hạn chế tiếp cận công nghệ thông tin làm giảm hiệu quả tuyên truyền, vận động; năng lực của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng tại nhiều địa bàn còn hạn chế cả về nhân lực và kỹ năng nghiệp vụ giám sát (B.Minh, 2025).
Hoạt động giám sát của nhân dân bước đầu tập trung đúng vào các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, như quản lý đất đai, tài chính – ngân sách, chương trình mục tiêu quốc gia, thái độ phục vụ tại bộ phận “một cửa”. Tuy nhiên, năng lực phát hiện, đánh giá của một số người giám sát đối với các nghiệp vụ chuyên môn phức tạp còn hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu ngày càng cao về thẩm quyền được phân cấp cho cấp xã.
Về cơ chế bảo đảm hiệu lực gắn kết với công tác cán bộ và bảo vệ người giám sát, đây là khâu còn yếu nhất. Việc xây dựng bộ tiêu chí, chỉ số đánh giá công chức dựa trên sự hài lòng của Nhân dân tại nhiều địa phương còn mang tính định tính, chưa chuẩn hóa thành dữ liệu làm căn cứ xếp loại, quy hoạch, bổ nhiệm hoặc xử lý công chức. Các biện pháp bảo vệ người tố giác, tố cáo chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu hiệu quả, chưa khuyến khích sự chủ động của cán bộ, đảng viên và người dân trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Ngô Nguyên, 2024).
Những hạn chế này xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau: (1) Hệ thống quy định pháp luật về giám sát của Nhân dân, nhất là danh mục nội dung, quy trình, trách nhiệm phản hồi của cơ quan công quyền chưa được cụ thể hóa đầy đủ, đồng bộ; (2) Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền giám sát chưa thường xuyên, sâu rộng; (3) Đội ngũ cán bộ làm công tác mặt trận, đoàn thể và thành viên Ban Thanh tra nhân dân còn thiếu về số lượng, hạn chế về kỹ năng nghiệp vụ, nhất là sau khi mở rộng địa giới hành chính; (4) Hạ tầng công nghệ số và kỹ năng số chưa đồng đều giữa các địa bàn; (5) Cơ chế gắn kết quả giám sát với đánh giá, sử dụng cán bộ và bảo vệ người giám sát chưa được thể chế hóa cụ thể, làm giảm động lực tham gia giám sát của Nhân dân.
4. Giải pháp phát huy vai trò giám sát của Nhân dân đối với hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã
Một là, nâng cao nhận thức, quán triệt quan điểm “dân là gốc”
Hiện nay, hạn chế căn bản trong thực hiện quyền giám sát của Nhân dân ở cấp xã là nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận người dân và biểu hiện quan liêu, xa dân của một bộ phận công chức. Do đó, cần quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, xác định Nhân dân vừa là chủ thể giám sát hoạt động công vụ, vừa là đối tượng phục vụ của hoạt động công vụ.
Cấp ủy, chính quyền cấp xã, trực tiếp là bí thư đảng ủy và chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phải thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, lãnh đạo và tổ chức thực hiện; công chức cấp xã phải coi sự giám sát của Nhân dân là yêu cầu tất yếu của hoạt động công vụ; người dân cần chủ động tìm hiểu, sử dụng quyền giám sát trên cơ sở thông tin và điều kiện pháp luật cho phép.
Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ công chức; đồng thời phổ biến rõ quyền, nội dung, phương thức và địa chỉ tiếp nhận phản ánh của người dân thông qua họp dân, tiếp xúc cử tri, hệ thống truyền thanh cơ sở và nền tảng số. Nội dung tuyên truyền cần thiết thực, dễ tiếp cận và gắn với các hoạt động cộng đồng thường xuyên.
Đưa nội dung phát huy quyền giám sát của Nhân dân vào sinh hoạt chi bộ, tổ dân phố và hoạt động quản lý thường kỳ; đề cao trách nhiệm nêu gương, tiếp nhận, đối thoại và phản hồi của người đứng đầu, bảo đảm kinh phí, tài liệu, nhân lực và phương tiện truyền thông phù hợp, duy trì tuyên truyền thường xuyên, liên tục, góp phần xây dựng chính quyền cơ sở công khai, minh bạch, gần dân và phục vụ Nhân dân hiệu quả.
Hai là, hoàn thiện thể chế, cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”
Thực trạng cho thấy hạn chế chủ yếu về thể chế là chưa xác định đầy đủ, cụ thể những nội dung người dân được trực tiếp giám sát, khiến quyền giám sát còn thiên về nguyên tắc, khó thực hiện thống nhất trên thực tế. Do đó, hoàn thiện thể chế là điều kiện quan trọng để chuyển nhận thức về quyền giám sát thành hành động thực chất, có hiệu quả.
Cơ quan tham mưu cấp tỉnh, trực tiếp là sở nội vụ và các sở, ngành liên quan, cần nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở phù hợp với điều kiện địa phương; các bộ, ngành Trung ương cần rà soát, hướng dẫn thống nhất, bảo đảm tính đồng bộ trong phạm vi cả nước.
Rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo hướng xác định rõ danh mục, nội dung và quy trình giám sát trực tiếp của Nhân dân, nhất là đối với quản lý đất đai, tài chính – ngân sách và an sinh xã hội. Đồng thời, quy định cụ thể thời hạn, trách nhiệm tiếp nhận, xử lý và phản hồi của cơ quan, công chức đối với ý kiến giám sát của người dân.
Cần ban hành kịp thời văn bản hướng dẫn thống nhất; gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ và kết quả thực hiện; tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, qua đó kịp thời điều chỉnh những bất cập, bảo đảm quyền giám sát của Nhân dân được thực hiện thực chất, minh bạch và hiệu quả.
Ba là, phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội
Thời gian qua hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể đạt kết quả đáng ghi nhận về số lượng cuộc giám sát, tuy nhiên, năng lực đội ngũ chưa theo kịp yêu cầu địa bàn mở rộng, đòi hỏi vừa duy trì kết quả đã có, vừa khắc phục sự hụt hẫng về nguồn lực.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cấp xã trực tiếp tổ chức, điều phối hoạt động giám sát; Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng thực hiện giám sát theo lĩnh vực được phân công. Cấp ủy, chính quyền cấp xã có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện, tiếp nhận và xử lý kịp thời kết quả, kiến nghị sau giám sát.
Cần xây dựng kế hoạch giám sát hằng năm có trọng tâm, tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm, như đất đai, tài chính, ngân sách, an sinh xã hội; đa dạng hóa kênh tiếp nhận phản ánh, kết hợp hòm thư góp ý, tiếp dân định kỳ với đường dây nóng và nền tảng trực tuyến. Đồng thời, nhân rộng mô hình “tự quản – tự chủ – tự giám sát” tại thôn, tổ dân phố; tăng cường tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ cho thành viên Ban Thanh tra nhân dân.
Cần bố trí kinh phí, phụ cấp phù hợp với khối lượng công việc sau sáp nhập; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ; xây dựng quy chế phối hợp bằng văn bản giữa Mặt trận với cấp ủy, chính quyền, xác định rõ trách nhiệm, thời hạn tiếp nhận, xử lý và phản hồi kiến nghị sau giám sát.
Bốn là, đẩy mạnh công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình và ứng dụng chuyển đổi số
Chính quyền cấp xã và người đứng đầu cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm chính trong bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và thực hiện giải trình; cơ quan chuyên trách công nghệ thông tin cấp tỉnh có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng nền tảng dùng chung. Mỗi công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc tuân thủ quy trình công khai, minh bạch và giải trình khi được yêu cầu.
Cần công khai đầy đủ các quy trình, thủ tục hành chính, kết quả kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật; thực hiện nghiêm trách nhiệm giải trình với thời hạn cụ thể đối với phản ánh, kiến nghị của người dân. Xây dựng công cụ để người dân đánh giá chất lượng, thái độ phục vụ của công chức sau giao dịch; tăng cường sử dụng hồ sơ điện tử, dữ liệu số và hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh trực tuyến.
Cần đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ, ưu tiên địa bàn khó khăn; tổ chức tập huấn kỹ năng số phù hợp với từng nhóm dân cư, nhất là người cao tuổi, khu vực nông thôn, miền núi. Tăng cường bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, tạo môi trường giám sát trực tuyến thuận tiện, an toàn và hiệu quả.
Năm là, gắn kết quả giám sát với công tác cán bộ và hoàn thiện cơ chế bảo vệ người giám sát
Cần thiết lập cơ chế bảo đảm kết quả giám sát được tiếp nhận, xử lý và phản hồi thực chất. Cấp ủy và cơ quan quản lý cán bộ, công chức cấp xã chịu trách nhiệm xây dựng, vận hành tiêu chí đánh giá gắn với mức độ hài lòng của người dân. Cơ quan cấp trên trực tiếp có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm khách quan, hạn chế tình trạng nể nang, hình thức. Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tố cáo phải bảo mật thông tin và bảo vệ người cung cấp thông tin.
Xây dựng bộ chỉ số tín nhiệm, mức độ hài lòng của người dân đối với công chức, thu thập thường xuyên, khách quan và sử dụng làm căn cứ đánh giá, xếp loại hằng năm. Đối với công chức có mức độ hài lòng thấp cần bố trí hoặc điều chuyển phù hợp, nếu có vi phạm hoặc bị phản ánh nhiều về thái độ, hành vi công vụ, cần xem xét đánh giá. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ người tố giác, tố cáo tiêu cực và xử lý nghiêm hành vi trù dập, trả thù.
Quy định rõ quy trình đánh giá, công khai kết quả xử lý, phản hồi kịp thời cho Nhân dân; đồng thời giám sát độc lập việc thực hiện tiêu chí, bảo đảm khách quan, minh bạch. Năm nhóm giải pháp này cần được triển khai đồng bộ, trong đó, nhận thức là nền tảng, thể chế là công cụ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội là lực lượng nòng cốt, chuyển đổi số là phương tiện và công tác cán bộ là khâu bảo đảm tính bền vững.
5. Kết luận
Phát huy vai trò giám sát của Nhân dân đối với hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã vừa là yêu cầu quản trị hành chính, vừa là nguyên tắc quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhất là trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, khi thẩm quyền và khối lượng công việc ở cấp xã ngày càng tăng. Tổng kết 13 năm thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị cho thấy những kết quả tích cực, song vẫn còn hạn chế về nhận thức, thể chế, năng lực thực hiện, ứng dụng công nghệ và cơ chế bảo đảm hiệu lực giám sát. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ năm nhóm giải pháp trọng tâm, gắn với trách nhiệm tham gia của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân, sẽ góp phần xây dựng chính quyền cơ sở liêm chính, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả và củng cố niềm tin của Nhân dânq
Ngày nhận: 16/7/2026; Ngày phản biện: 13/9/2026;
Ngày duyệt đăng: 25/9/2026
Email liên hệ: tuanpro686@gmail.com
———————————————-
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Chính trị (2013a). Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội.
Bộ Chính trị (2013b). Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 183-KL/TW ngày 01/8/2025 về việc tích cực triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chuyển mạnh cấp cơ sở sang chủ động nắm bắt, điều hành kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2023). Hậu Giang: 10 năm thực hiện Quyết định số 217 và 218 của Bộ Chính trị. Cổng Thông tin Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. https://www.hoilhpn.org.vn, ngày 27/7/2023.
B.Minh (2025). Kiểm tra việc sắp xếp bộ máy Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. https://dangcongsan.org.vn, ngày 08/8/2025.
Quang Minh (2025). Kết quả nổi bật của thực hiện dân chủ cơ sở năm 2025 ở Nghệ An. Trang tin điện tử Đảng bộ tỉnh Nghệ An. https://nghean.dcs.vn, ngày 28/11/2025.
Ngô Nguyên (2024). Còn nhiều khó khăn trong bảo vệ người tố cáo, chống tham nhũng tiêu cực. Báo Đầu tư. https://baodautu.vn, ngày 27/8/2024.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.
Quốc hội (2025a). Luật Cán bộ, công chức năm 2025
Quốc hội (2025b). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Tiến Đạt (2026). Hoạt động giám sát, phản biện xã hội ngày càng hiệu quả, thiết thực. Báo Đại đoàn kết. https://daidoanket.vn, ngày 17/6/2026.
B.S (2026). Chỉ số SIPAS 2025: Mức độ hài lòng của người dân đạt 83,09%. Báo Thanh tra. https://thanhtra.com.vn, ngày 13/5/2026.
Đức Việt (2025). Nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Cổng thông tin Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị. https://baoquangtri.vn, ngày 15/11/2025.
Anh Vũ (2025). Giám sát tại cộng đồng: Ngăn ngừa sai phạm, tiêu cực từ cơ sở. Báo Đại đoàn kết. https://daidoanket.vn, ngày 18/3/2025.
(Tạp chí Khoa học chính trị Số 7/2026)







