TS. LÊ THỊ ANH ĐÀO – Học viện Chính trị khu vực II,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Trong bối cảnh thực hiện định hướng xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, để xây dựng và triển khai thành công “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” trong định hướng nhiệm vụ trọng tâm của toàn hệ thống chính trị; yêu cầu đặt ra cần tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, góp phần định hình rõ hơn về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Qua đó, có thể thấy, trong quá trình xây dựng, rất cần thiết tham khảo những giá trị nhà nước pháp quyền từ tư tưởng nhân loại, từ các mô hình nhà nước pháp quyền thực tiễn trong những khuôn khổ thể chế chính trị – xã hội khác trên thế giới để tiếp thu chọn lọc và vận dụng phù hợp đối với Việt Nam.
Từ khóa: nhà nước pháp quyền; xã hội chủ nghĩa; Việt Nam
1. Những giá trị cốt lõi của nhà nước pháp quyền đương đại
Nhà nước pháp quyền là một trong những thành tựu của nhân loại trong quá trình tổ chức và vận hành xã hội. Nhà nước pháp quyền được các nhà nghiên cứu tiếp cận, khai thác từ nhiều góc độ khác nhau, với những nội dung được đề cập, diễn đạt khác nhau. Mặc dù vậy, các quan điểm nghiên cứu khá thống nhất khi xác định bản chất của nhà nước pháp quyền: Nhà nước pháp quyền là trật tự xã hội, phản ánh phương thức nhà nước thực thi quyền lực của mình trên cơ sở pháp luật, bằng pháp luật, thông qua pháp luật, nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm công lý trong thể chế nhà nước.
Trên phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền, trước hết là tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã xuất hiện trong lịch sử tư tưởng chính trị – pháp lý phương Đông và phương Tây; từ sự đề cao vai trò của pháp luật trong mối quan hệ với tổ chức và thực hiện quyền lực. Trong đó, nhà nước với tư cách là tổ chức quyền lực ban hành, sử dụng và duy trì pháp luật như một phương thức hiện thực hóa quyền lực của mình trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong mối quan hệ với các chủ thể, pháp luật xác lập hiệu lực, tính bắt buộc chung, là cơ sở để tổ chức và vận hành toàn bộ hệ thống thể chế, bao gồm cả tổ chức quyền lực có thẩm quyền thừa nhận và ban hành ra pháp luật là nhà nước.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền được thể hiện nổi bật, có tính hệ thống trong quan điểm của các nhà tư tưởng tư sản phương Tây thời kỳ Cận đại. Nhà tư tưởng người Anh John Locke (1632 – 1704), trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về Chính phủ đã khẳng định: Nhà nước và quyền lực của nó có được là dựa trên sự đồng thuận của người dân. Từ tư tưởng khởi đầu này, các nhà tư tưởng nổi tiếng J.J. Rouseau và Ch.Montesquieu tiếp tục kế thừa, phát triển và bổ sung nhiều nội dung về nhà nước pháp quyền. Có thể thấy, học thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản với tư cách là vũ khí sắc bén tấn công vào nhà nước phong kiến, đã nêu ra và xác lập mục tiêu dân chủ nhân dân cho thể chế nhà nước mới trên cơ sở thiết lập nguyên tắc giới hạn phạm vi quyền lực của nhà nước; nhà nước tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng pháp luật. Học thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản đã làm phong phú và sâu sắc hơn những nội dung có tính giá trị, phổ biến trong tư tưởng của nhân loại về một phương thức nhà nước được tổ chức và hoạt động đáp ứng yêu cầu phù hợp với sự vận động của đời sống xã hội đương đại. Quan điểm tư tưởng chủ đạo của học thuyết thể hiện nguyện vọng tiến bộ của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến lạc hậu, thiết lập trật tự xã hội mới – xã hội tư bản. Học thuyết này cũng chính là ngọn cờ tư tưởng của giai cấp tư sản trong cách mạng tư sản, là một bộ phận của văn minh nhân loại.
Cùng với dòng chảy thời gian, ở thời kỳ đương đại, lý luận về nhà nước pháp quyền đã khái quát hệ thống giá trị phổ biến, phản ánh trình độ phát triển dân chủ của thể chế nhà nước qua các quá trình lịch sử. Những giá trị phổ biến là những điểm chung, nội dung cốt lõi của nhà nước pháp quyền hình thành và phát triển lâu dài, được thẩm định, kiểm chứng trong các quá trình xã hội chuyển hóa từ tư tưởng đến hiện thực về nhà nước pháp quyền gắn liền với các quốc gia, dân tộc, thể chế. Những giá trị cốt lõi phổ biến của nhà nước pháp quyền đương đại là kết quả của quá trình phát triển nhận thức, là kết quả của kiểm nghiệm thực tiễn về một phương thức quản trị xã hội, với mối quan hệ giữa nhà nước, pháp luật và nhân dân là trung tâm. Trong đó, việc xác lập tư cách chủ thể quyền lực thuộc về nhân dân trong nhà nước pháp quyền là một giá trị cốt lõi. Quyền lực của nhân dân là quyền lực gốc. Quyền lực của người cầm quyền, của nhà nước là quyền lực phái sinh và có được bởi sự ủy quyền từ nhân dân. Trong mối quan hệ với chủ thể quyền lực nhân dân, quyền lực của người cầm quyền, quyền lực của nhà nước được hạn chế và kiểm soát. Sự hạn chế và kiểm soát quyền lực ấy là những điều kiện căn bản bảo đảm mục tiêu dân chủ trong nhà nước pháp quyền. Không những thế, những điều kiện ấy phải được thể chế hóa bằng pháp luật và pháp luật như là phương thức quản trị có hiệu quả nhất trong nhà nước pháp quyền. Từ đó, cách thức tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước trên nền tảng pháp luật, vì mục tiêu dân chủ của nhà nước pháp quyền được khẳng định.
Trên phương diện thực tiễn, nhà nước pháp quyền trở thành hiện thực ở nhiều nhà nước tư sản từ cách mạng tư sản, gắn liền với quá trình đấu tranh của giai cấp tư sản vì quyền con người, quyền công dân. Việc nhận diện các mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể trong đời sống chính trị – pháp lý đương đại là quá trình nhận thức lâu dài, bền bỉ của nhân loại. Có nhiều cách tiếp cận các mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể để xác định những nội dung cơ bản, những đặc điểm quan trọng của nhà nước pháp quyền. Mặc dù vậy, ở các góc độ và với phương pháp tiếp cận khác nhau, trên phương diện thực tiễn, nội dung trọng tâm thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về nhà nước pháp quyền tập trung vào mối quan hệ của nhà nước pháp quyền với vấn đề dân chủ, vì mục tiêu dân chủ của cả thể chế chính trị – xã hội. Tựu trung lại, nhà nước pháp quyền là phương thức thực hiện dân chủ, là mô hình hiện thực hóa mục tiêu dân chủ thông qua việc tổ chức và thực hiện quyền lực bằng pháp luật, bởi pháp luật và thông qua pháp luật. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan đã nêu quan điểm về nhà nước pháp quyền: “Nhà nước pháp quyền là quan điểm về một cách tổ chức quản trị, theo đó mọi người, mọi định chế, tổ chức – công cũng như tư, trong đó có nhà nước – phải phục tùng pháp luật. Đến lượt nó, pháp luật cần được công bố công khai, được thực thi một cách bình đẳng đối với mọi người, được áp dụng bởi tòa án độc lập, pháp luật đó phải phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các quy chuẩn quyền con người. Nhà nước pháp quyền cũng đồng thời đòi hỏi bảo đảm thực thi các nguyên tắc ưu tiên về quyền, bình đẳng và trách nhiệm trước pháp luật, các nguyên tắc về phân quyền, về sự tham gia của người dân và sự minh bạch trong hoạch định chính sách và trong các thủ tục pháp lý”(1). Cách tiếp cận phổ biến từ những giá trị cốt lõi của nhà nước pháp quyền thể hiện trước hết bằng ghi nhận, quy định của hiến pháp ở các quốc gia về nhà nước pháp quyền. Thống kê của Oceana’s Constitutions of the Countries of the World Online cho thấy, có 95 trong số 125 hiến pháp của các nước quy định về nhà nước pháp quyền(2).
Trên phương diện lý luận và thực tiễn, có thể nhận thấy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền và nội hàm của các mô hình nhà nước pháp quyền trong thực tiễn đời sống chính trị đương đại có nhiều nội dung được đề cập, được bổ sung phù hợp với các bối cảnh chính trị – xã hội thực tiễn mà trên đó, nhà nước pháp quyền được xây dựng. Trên thực tế, việc hiện thực hóa các mô hình nhà nước pháp quyền ở các quốc gia khác nhau là quá trình các chủ thể quan tâm thiết kế, xây dựng mô hình gắn với những đặc điểm và bối cảnh chính trị – xã hội cụ thể của từng nước. Mặc dù vậy, một cách cơ bản nhất, nhà nước pháp quyền luôn phản ánh những giá trị tư tưởng phổ biến của nhân loại, phản ánh các quan điểm dân chủ tiến bộ với tư cách là những giá trị cốt lõi, phổ quát của nhà nước pháp quyền; tập trung vào các nội dung sau: (1) Tư tưởng về chủ quyền nhân dân: chủ quyền nhân dân là nguồn gốc của quyền lực nhà nước; nhà nước và quyền lực nhà nước có được đều do ý chí của nhân dân. (2) Tư tưởng đề cao vai trò của pháp luật trong mối quan hệ với hệ thống quyền lực nhà nước: pháp luật có hiệu lực pháp lý tối thượng; quy định, giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước; được áp dụng công bằng, nhất quán, bảo đảm tính công khai, sự minh bạch, dễ tiếp cận, áp dụng kịp thời. (3) Tư tưởng về yêu cầu độc lập của tư pháp: độc lập của chủ thể thực hiện bảo vệ pháp luật, với tư cách là điều kiện bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong nhà nước pháp quyền. (4) Tư tưởng đề cao các giá trị công bằng, công lý, quyền con người: nhà nước pháp quyền bảo vệ và bảo đảm các điều kiện thực hiện các giá trị công bằng, công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân(3).
Những giá trị cốt lõi của nhà nước pháp quyền là những yếu tố nội dung cơ bản được tiếp cận và thể hiện trong các nhà nước pháp quyền thực tiễn. Hơn nữa, từ tính phổ quát chung của các giá trị cốt lõi này, nhà nước pháp quyền với những nội dung đã xác định luôn phản ánh mục tiêu hướng đến trong xu thế xây dựng các nhà nước dân chủ của thời kỳ đương đại ngày nay.
Mặc dù vậy, những biểu hiện tồn tại của nhà nước pháp quyền hiện đại trên thực tế là khác nhau trong những khuôn khổ thể chế nhà nước khác nhau. Bên cạnh những giá trị phổ quát, các mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể còn phản ánh những giá trị đặc thù. Những giá trị đặc thù này được đúc kết từ những điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên của mỗi quốc gia – dân tộc. Trên thực tế, những giá trị đặc thù của các nhà nước pháp quyền hiện đại khá đa dạng, phong phú; là những yếu tố tạo nên bản sắc riêng của mỗi thể chế nhà nước nhất định; phản ánh sự tác động của những yếu tố khách quan, chủ quan của tiến trình phát triển ở mỗi quốc gia, dân tộc. Vì thế, về mặt thực tiễn không thể có một nhà nước pháp quyền là duy nhất, là mô hình nhà nước pháp quyền chung cho mọi thể chế nhà nước trên thế giới. Các khảo sát kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền tại nhiều nước trên thế giới đã cho thấy ở các quốc gia khác nhau, mô hình nhà nước pháp quyền được tổ chức vừa thống nhất vừa đa dạng, phản ánh các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, đồng thời có các giá trị đặc thù của từng quốc gia. Điều này minh chứng rõ nét: trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, việc xây dựng các nhà nước pháp quyền cụ thể, trước hết phải dựa trên nền tảng điều kiện chủ quan, khách quan của chính quốc gia đó; sau nữa là kết quả của sự chủ động tích cực từ các chủ thể trong việc tiếp nhận, tiếp thu những yếu tố hợp lý, những giá trị nhân văn, tiến bộ, những cách thức thực hiện quyền lực hiệu quả của nhà nước pháp quyền đã được minh chứng trong thực tiễn.
2. Những giá trị tham khảo về nhà nước pháp quyền đối với Việt Nam trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Nhà nước pháp quyền, trên phương diện lý luận và thực tiễn, có nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những nội dung cốt lõi về nhà nước pháp quyền trong tư tưởng nhân loại đã được C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin kế thừa, phát triển sâu sắc theo quan điểm khoa học và cách mạng. Trong các tác phẩm kinh điển của mình, mặc dù chưa sử dụng thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” nhưng các tác giả kinh điển mácxit đã xác lập tư tưởng về những đặc trưng của nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước kiểu mới hợp hiến, hợp pháp, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm tính tối thượng của hiến pháp và pháp luật, triệt để giải phóng con người.
Ở Việt Nam, nhận thức về nhà nước pháp quyền và hình thành quan điểm định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quá trình với sự nhận thức, khẳng định những giá trị của kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa; là quá trình đổi mới sáng tạo và tiếp nhận, tiếp thu những yếu tố hợp lý, phù hợp những giá trị tinh hoa của nhân loại về nhà nước pháp quyền trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam được khởi nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Việt Nam. Từ những ngày đầu lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng căn bản cho việc tổ chức nhà nước trên tinh thần pháp quyền. Tư tưởng của Người về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam thấm nhuần trong lãnh đạo các quá trình cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, tư tưởng ấy được thể hiện rõ nét trong hệ thống quan điểm chính trị của Đảng về định hướng đổi mới đất nước; đã tạo ra những tiền đề cần thiết để xác lập đầy đủ và đổi mới tư duy, nhận thức về nhà nước pháp quyền nói chung, về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng. Trong đó, nhận thức về giá trị xã hội của nhà nước và pháp luật, về tôn trọng quyền và trách nhiệm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của nhà nước, về phương thức thực thi quyền lực nhà nước đã góp phần tạo nên chuyển biến mới trong quá trình tiếp cận, tiếp thu tri thức, giá trị phổ biến của nhân loại về nhà nước pháp quyền. Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (tháng 01/1994) lần đầu sử dụng tiên thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” và nêu rõ quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong tư duy nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền và định hình đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quá trình phát triển tư duy nhận thức của Đảng trong định hướng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự kết tinh giữa khẳng định, bổ sung, phát triển sáng tạo tư tưởng, quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự tiếp cận, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hợp lý, phù hợp những giá trị tiến bộ của nhân loại về nhà nước pháp quyền. Hệ thống quan điểm đường lối về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện cụ thể trong các quyết sách chính trị quan trọng của Đảng ở các nhiệm kỳ; được thể chế hóa pháp lý trong văn bản Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước với những bổ sung, điều chỉnh phù hợp bối cảnh, tình hình, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện và tăng cường các giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ”(4). Với định hướng này, trước hết, cần khẳng định Nhà nước pháp quyền Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Sau nữa, Cương lĩnh xây dựng đất nước là cơ sở chính trị quan trọng chính thức xác định Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo là một trong 08 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam hướng đến xây dựng (Nghị quyết số 08-NQ/HNTW ngày 23/01/1995 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Với những quy định trên, Hiến pháp năm 2013 đã xác lập cơ sở pháp lý về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản ánh bản chất, nguyên tắc, nội dung, tổ chức, mục tiêu hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những nội dung này phản ánh sâu sắc bản chất, đặc trưng và những giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đương đại.
Qua hơn 35 năm đổi mới, đất nước đã đạt những thành tựu quan trọng và có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; góp phần tạo tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội thúc đẩy tích cực tiến trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh, tình hình mới. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng định hướng: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(5).
Từ tổng thể nghiên cứu lý luận, quan điểm lãnh đạo của Đảng và kinh nghiệm thực tiễn, từ nhận thức đến tổ chức thực hiện, mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác lập với những nội dung căn bản: Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hai là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, giữ vững mối liên hệ dân chủ giữa nhà nước và công dân, giữa nhà nước và xã hội. Ba là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội. Bốn là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền lực nhà nước thống nhất, có phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Từ những nội dung trên, chúng ta nhận diện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những giá trị phổ biến chung được phản ánh, đồng thời có những giá trị đặc thù của thể chế chính trị Việt Nam trong mối tương quan với các nhà nước pháp quyền trên thế giới.
Qua đó, bên cạnh việc khẳng định bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức, hoạt động trên nền tảng chế độ chính trị nhất nguyên xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự tham khảo những giá trị cốt lõi, hợp lý của nhà nước pháp quyền thế giới trong định hướng xây dựng, phát triển của mình. Theo đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định nhất quán quan điểm Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chủ quyền nhân dân là tư tưởng xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của nước ta. Tính nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là cơ sở và mục tiêu của tổ chức và hoạt động của toàn thể chế nhà nước.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định quan điểm tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, với nhà nước, với chế độ xã hội. Trong đó, pháp luật quy định và điều chỉnh trách nhiệm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp công dân của nhà nước, công dân thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội. Mối quan hệ chủ đạo này được thể chế và được thực hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho việc hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định quan điểm pháp quyền, tính hợp hiến và tính chính đáng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước(6); bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật. Trong bối cảnh chính trị – xã hội Việt Nam, pháp luật của nhà nước có nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và lợi ích của nhân dân. Vì vậy, pháp luật phải trở thành phương thức hoạt động chủ đạo của nhà nước và là thước đo giá trị xã hội về công bằng, dân chủ, bình đẳng – những tố chất cần thiết cho bảo đảm sự phát triển tiến bộ và bền vững của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặt khác, nguyên tắc pháp lý trong tổ chức và thực thi quyền lực là tiền đề quan trọng để bảo đảm cho pháp luật có vị trí tối thượng; là cơ sở cho hoạt động của các thiết chế quyền lực. Ngược lại, các thiết chế quyền lực là điều kiện bảo đảm cho pháp luật công bằng và dân chủ thực sự trong nhà nước pháp quyền, chế độ pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định quan điểm về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước: thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, thống nhất quyền lực là nền tảng, sự phân công, phối hợp, kiểm soát là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực nhà nước. Có thể thấy, định hướng tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ Hiến pháp năm 2013 với việc bổ sung cơ chế kiểm soát quyền lực đã góp phần làm sâu sắc hơn sự tiếp thu của Việt Nam về vận dụng những cách thức thực thi quyền lực nhà nước hiệu quả được xác định trong thực tiễn nhà nước pháp quyền thế giới.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước. Đây là một trong những điểm đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khẳng định là nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được tổ chức trên nền tảng xã hội là liên minh giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Trong bối cảnh chính trị một đảng duy nhất cầm quyền, nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo, sự điều chỉnh của Hiến pháp và pháp luật, hoạt động hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn“khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội”(7).
Trong bối cảnh thực hiện các định hướng xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, để xây dựng và triển khai thành công “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” trong định hướng nhiệm vụ trọng tâm của toàn hệ thống chính trị hiện nay; yêu cầu đặt ra cần tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, góp phần định hình rõ hơn về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Qua đó, có thể thấy, trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, rất cần thiết tham khảo những giá trị nhà nước pháp quyền từ tư tưởng nhân loại, từ các mô hình nhà nước pháp quyền thực tiễn trong những khuôn khổ thể chế chính trị – xã hội cụ thể trên thế giới để tiếp thu chọn lọc và vận dụng phù hợp đối với Việt Nam.
Việc định hình rõ hơn về nội dung mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần xác lập trên cơ sở: Tham khảo những nội dung cốt lõi của nhà nước pháp quyền đương đại, tiếp thu những giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền thế giới phù hợp với các đặc điểm lịch sử, văn hoá, chính trị của quốc gia; chuyển hoá chúng thành các giá trị nội tại, giá trị quốc gia. Quá trình tiếp cận các mô hình nhà nước pháp quyền thực tiễn, xác định những giá trị phổ biến chung của nhà nước pháp quyền đương đại có ý nghĩa tích cực hướng đến bảo đảm yếu tố pháp quyền của nhà nước theo các chuẩn mực đã được thừa nhận; hạn chế tính dân tộc cục bộ, cực đoan cản trở các giá trị dân chủ trong đời sống xã hội quốc tế, trong thế giới mở hiện đại ngày nay. Bên cạnh đó, việc định hình rõ hơn về một mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đòi hỏi phản ánh bản chất của chế độ chính trị, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, và phát huy các giá trị dân chủ của nhân dân; thể hiện được bản sắc của quốc gia, dân tộc. Sự thống nhất biện chứng giữa tính phổ biến và tính đặc thù của nhà nước pháp quyền là một trong những yêu cầu cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay./.
————————————————
(1) The Rule of Law and Transitional Justice in Conflict and Post-conflict Societies UN Security Counsil S/2004/ 616, 23 August 2004, par III 6
(2) http://www.oceanalaw.com/default.asp
(3) Tại hội nghị quốc tế họp tại Benin (tháng 9/1991) với sự tham gia của 40 nước đã xác định các yếu tố nội hàm của nhà nước pháp quyền: nhà nước pháp quyền là một chế độ chính trị mà ở đó nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật và nghĩa vụ của tất cả, của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, các quy trình, các quy phạm pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng một hệ thống tòa án độc lập. Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao nhất của con người và bảo đảm cho công dân có khả năng, điều kiện chống lại sự tùy tiện của pháp luật cũng như các họat động của bộ máy nhà nước. Nhà nước pháp quyền phải đảm bảo cho công dân không bị đòi hỏi bởi những cái ngoài hiến pháp và pháp luật quy định. Trong hệ thống pháp luật thì hiến pháp giữ vị trí tối cao và nó phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quyền tự do và quyền công dân.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.85
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t. I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021, tr.174
(6) Võ Khánh Vinh, Một số ý kiến về sự thể hiện quan điểm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3 (251)/2009, tr.4
(7) Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 966, tháng 5/2021, tr.9







