TRẦN THỊ KIM NINH(*)

(*) TS, Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: 75 năm (1949 – 2024), Trường Đảng miền Nam – Học viện Chính trị khu vực II, từ lịch sử xây dựng, phát triển đã tạo nên giá trị cho các thế hệ tiếp nối kế thừa và phát huy. Bài viết khái quát những chặng đường lịch sử lưu lại các dấu ấn tạo nên giá trị trường Đảng miền Nam, là ngôi trường đào tạo những chiến sĩ tiên phong phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng. Đồng thời, những giá trị này là động lực để cán bộ, viên chức và người lao động của Học viện Chính trị khu vực II đổi mới liên tục trên các lĩnh vực hoạt động, nhằm không ngừng hoàn thiện để nơi đây thật sự là trung tâm uy tín về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị – xã hội ở khu vực Nam Bộ.
Từ khóa: dấu ấn lịch sử; Học viện Chính trị khu vực II; giá trị; Trường Đảng miền Nam

Tháng 01/1949, tại Hội nghị cán bộ quân sự mở rộng ở Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ nhấn mạnh: “Vấn đề củng cố sự lãnh đạо của Đảng trong bộ đội và dân quân, thực hiện đầy đủ quyền lãnh đạo trong bộ đội, dân quân là một nhiệm vụ quyết định sự mất còn của cách mạng”(1). Từ đó, Hội nghị quyết định: “một trong những công việc phải làm ngay là gấp rút mở các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo các cấp trong Đảng, Chính quyền, quân đội và đoàn thể”(2). Quyết định của Xứ ủy Nam Bộ đã đưa đến việc thành lập trường để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp cho khu vực Nam Bộ. Trường lý luận chính trị chính quy đầu tiên của Trung ương ở Nam Bộ: Trường Đảng miền Nam mang tên Tổng Bí thư Trường Chinh được thành lập tháng 9/1949 (tiền thân của Học viện Chính trị khu vực II ngày nay).
Sau khi hòa bình, thống nhất đất nước, Trường Đảng miền Nam với nhiều tên gọi khác nhau, trải qua quá trình phát triển, sáp nhập, ngày nay với tên gọi: Học viện Chính trị khu vực II. Trải qua 75 năm (1949 – 2024), Trường Đảng miền Nam – Học viện Chính trị khu vực II đã không ngừng được xây dựng và phát triển. Đến nay, Học viện Chính trị khu vực II là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn các tỉnh thành vùng Đông Nam Bộ và một số địa phương. Dấu ấn của 75 năm qua của Trường Đảng miền Nam có thể được nhìn nhận trên những nội dung sau:
Thứ nhất, vùng đất có truyền thống cách mạng in đậm dấu ấn sự ra đời của Trường Trường Chinh
Xã Lương Tâm là vùng căn cứ địa cách mạng, vùng giải phóng, dân cư khá tập trung và có truyền thống yêu nước. Vì vậy, khi Trường Trường Chinh được thành lập (năm 1949) rất dễ dựa vào dân học tập, lao động.
Khóa I của trường khai giảng tại xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc tỉnh Hậu Giang). Trong thời gian từ năm 1949 – 1954, Trường đã nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên theo phương châm lý luận đi đôi với thực tiễn, chống bệnh chủ quan, giáo điều, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, tăng cường giáo dục ý thức giai cấp, tinh thần kỷ luật và đạo đức cách mạng cho đảng viên. Quá trình ra đời và hoạt động của Trường Đảng miền Nam trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng vào công tác đào tạo, bồi dưỡng các thế hệ cán bộ trở thành những cán bộ kiên trung của Đảng, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc. Trường Đảng miền Nam thời kỳ hoạt động ở Hậu Giang là nơi sản sinh ra những thế hệ các chiến sĩ cách mạng, kiên trung hết lòng vì dân vì nước; không chỉ thực hiện nhiệm vụ học tập lý luận chính trị, mà rất linh hoạt đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, hành động cao cả vì một Việt Nam sớm sạch bóng quân xâm lược… Kết quả hoạt động của Trường đã hiện thực hóa ý kiến của Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn là củng cố sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, bồi đắp niềm tin, sự gắn bó của nhân dân – nhân tố quyết định sự sống còn của cuộc cách mạng. Với truyền thống cách mạng và niềm tin yêu những người cộng sản, nhân dân xã Lương Tâm đã sẵn sàng đóng góp sức người, sức của cho sự ra đời và phát triển Trường Trường Chinh những năm tháng đầu mới được thành lập.
Thứ hai, dấu ấn của những người đứng đầu Trường Đảng miền Nam (1949 – 1975)
Đây là chặng đường 26 năm đầu trong khói lửa chiến tranh, sự hình thành và phát triển của Trường Đảng miền Nam gắn liền với dấu ấn của những chiến sĩ cộng sản kiên trung, đồng thời là những người đứng đầu nhà trường.
Năm 1949, trường lý luận chính trị chính quy đầu tiên của Trung ương ở Nam Bộ ra đời với tên gọi Trường Trường Chinh, do đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh (1916 – 1981), (bí danh Thượng Vũ, Trung Nam, Tư Kỉnh), Phó Bí thư Xứ ủy là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đảng miền Nam – Trường Trường Chinh giai đoạn 1949 – 1951. Xuất thân trong gia đình khá giả tại Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), có quốc tịch Pháp (còn được gọi là “dân Tây”), nhưng Nguyễn Văn Kỉnh sớm giác ngộ lý tưởng và tham gia hoạt động cách mạng. Năm 16 tuổi, Nguyễn Văn Kỉnh tốt nghiệp hạng ưu trường Trung học Petrus Ký – một trong những ngôi trường nổi tiếng ở Đông Dương thời bấy giờ, nhưng “đã kiên quyết xếp bút nghiên từ giã học đường. Đối với anh, người thanh niên sống giữa trào lưu tiến hóa của xã hội ngày nay, phải có nhân sinh quan tiến bộ, phải dấn thân theo con “Đường Cách mệnh” thiêng liêng của Nguyễn Ái Quốc”(3). Đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh đã đồng hành 65 năm cùng lịch sử đất nước, với những vị trí, vai trò, góc độ khác nhau. Điều này đã phản ánh chân thực người trí thức cộng sản đức – tài vẹn toàn; đồng thời, là người hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đảng miền Nam (Trường Trường Chinh). Ngày nay, thế hệ chúng ta tự hào tiếp nối truyền thống vẻ vang của các bậc tiền bối, tự hào về người hiệu trưởng đầu tiên – người trí thức cộng sản Nguyễn Văn Kỉnh.
Tiếp đến, đồng chí Hà Huy Giáp (1907 – 1995) là Hiệu trưởng Trường Trường Chinh giai đoạn 1951 – 1954. Nhớ về đồng chí Hà Huy Giáp, đồng chí Trần Hoàn, nguyên Bộ Trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin viết: “Là chiến sĩ thuộc lớp cận vệ đầu tiên của Đảng, đối với chúng ta, cuộc đời hoạt động cách mạng kiên cường, lâu dài và phong phú của đồng chí Hà Huy Giáp là những trang sử thi đẹp đẽ, xứng đáng với danh hiệu mà cán bộ, đảng viên lớp sau thường tôn vinh là người học trò chí cốt của Bác Hồ kính yêu…”(4).
Đồng chí Nguyễn Văn Linh (1915 – 1998), Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc miền Nam năm 1961 và 1974 – 1975. Năm 1961, cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn “Đồng khởi”. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng miền Nam, tháng 01/1961, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng, quyết định thành lập lại Trung ương Cục miền Nam và cử đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư Trung ương Cục. Tổ chức đảng từ Trung ương Cục đến cơ sở được sắp xếp lại. Những chi bộ, cán bộ, đảng viên còn lại ở miền Nam vượt qua mọi thử thách, khó khăn trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào. Nhiều người yêu nước, chí cốt với cách mạng đã trở thành cán bộ, đảng viên đảm trách những chức vụ quan trọng trong các tổ chức đảng, mặt trận và lực lượng vũ trang quân giải phóng. Sự lớn mạnh của đội ngũ cán bộ đã khẳng định năng lực, vai trò lãnh đạo của các tổ chức cách mạng. Tuy nhiên, để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi cán bộ phải được trang bị lý luận cách mạng, kinh nghiệm công tác để nâng cao hơn nữa bản lĩnh, năng lực hoạt động cách mạng trong thực tiễn.
Nhận thức được nhu cầu cấp bách trên, tháng 10/1961, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập lại Trường Đảng miền Nam, lấy tên là Trường Nguyễn Ái Quốc miền Nam, mở các khóa đào tạo cán bộ một cách chính quy ở vùng giải phóng. Kế thừa kinh nghiệm và nhiệm vụ của Trường Trường Chinh, Trường Nguyễn Ái Quốc miền Nam được Trung ương Cục miền Nam giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, năng lực công tác và bản lĩnh chiến đấu cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp Tỉnh ủy, Khu ủy, lực lượng vũ trang từ Ninh Thuận, Bình Thuận trở vào Nam Bộ và các ban, ngành thuộc Trung ương Cục miền Nam. Trong những ngày đầu thành lập, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục trực tiếp lãnh đạo Trường Nguyễn Ái Quốc miền Nam. Cuối tháng 7/1974, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ra Nghị quyết số 38/NQCB “Về Ban giám hiệu Trường Đảng”, chỉ định đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) là Trưởng ban (Hiệu trưởng).
Hiện nay, đất nước đã trải qua gần 40 năm đổi mới, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trên chặng đường ấy, không thể không nhắc đến vai trò và đóng góp to lớn, quan trọng của đồng chí Nguyễn Văn Linh – Tổng Bí thư đầu tiên của sự nghiệp đổi mới.
Đồng chí Phan Văn Đáng (1918 – 1997), Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc miền Nam giai đoạn 1962 – 1973. Đồng chí Phan Văn Đáng là một nhà lãnh đạo vững bước vượt qua những thử thách khốc liệt của chiến tranh, sống trọn tình, trọn nghĩa với Đảng, với đồng chí, bạn bè, người thân; có lối sống rất nghiêm túc khi làm việc, hiền hòa, thân thương trong sinh hoạt đời thường, để mãi là một người cộng sản chân chính trong trái tim của nhân dân.
Thứ ba, đào tạo thế hệ đảng viên cộng sản kiên trung, bền gan, anh dũng
Từ Trường Trường Chinh (1949 – 1951) đến Trường Nguyễn Ái Quốc miền Nam (1961 – 1975), bộ máy của Trường Đảng miền Nam bao gồm Ban điều hành, lãnh đạo trường, đội bảo vệ, đội hậu cần. Giai đoạn này, Trường chưa phân ra các khoa, phòng ban cụ thể. Chương trình học chủ yếu là học về Triết học Mác – Lênin; một số vấn đề cơ bản về chủ nghĩa xã hội; đường lối, phương pháp cách mạng miền Nam, các nghị quyết Trung ương, lịch sử Đảng và xây dựng Đảng, chính sách mặt trận, chính sách tôn giáo, chính sách dân tộc. Thời gian của các khóa học linh hoạt theo yêu cầu nhiệm vụ cách mạng miền Nam lúc bấy giờ. Học viên các khóa cùng cán bộ Trường Đảng miền Nam ngoài việc học tập, còn tham gia sản xuất, chiến đấu cùng quân và dân miền Nam, góp phần đánh bại âm mưu của kẻ thù trên chiến trường miền Nam. Trong các khóa học, giảng viên và học viên của Trường luôn được lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam, lãnh đạo trường động viên, nhắc nhở, quán triệt thái độ phương pháp dạy – học, phương châm học gắn với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn, kết hợp tự phê bình với phê bình dân chủ. Bằng ý chí quyết tâm học tập, tự giác tu dưỡng rèn luyện đạo đức, tác phong cách mạng, giảng viên cùng học viên nhà trường đã góp phần, nâng cao chất lượng dạy – học của Trường Nguyễn Ái Quốc miền Nam.
Quá trình ra đời và hoạt động của Trường Đảng miền Nam trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng vào công tác đào tạo, bồi dưỡng các thế hệ cán bộ trở thành những cán bộ tiên phong, kiên trung của Đảng, luôn giữ vững chí khí chiến đấu, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Nhiều đồng chí học viên sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đã được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Thứ tư, Trường Đảng miền Nam – Học viện Chính trị khu vực II, từ những dấu ấn của chặng đường 75 năm xây dựng và phát triển, những giá trị được hình thành
Một là, nơi đào tạo cán bộ cốt cán của Đảng và hệ thống chính trị
Ngày nay, trong bối cảnh đất nước đổi mới, các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên tự hào tiếp nối truyền thống Trường Đảng miền Nam, luôn ý thức trách nhiệm trước Đảng, đổi mới liên tục trên các lĩnh vực hoạt động, không ngừng hoàn thiện để thực sự là trung tâm uy tín về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, cán bộ khoa học của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị – xã hội tại khu vực Nam Bộ; tiếp tục phát huy truyền thống là cái nôi đào tạo các chuyên ngành lý luận chính trị.
Trước hết, “Trường Đảng là một trường học để đào tạo những chiến sĩ tiên tiến phấn đấu cho sự nghiệp của giai cấp vô sản”(5), là nơi góp phần nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên, giúp hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Nhà trường không chỉ đào tạo, trang bị về kiến thức, về lý luận cách mạng mà đặc biệt chú ý rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Sự thành công của Trường trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện cán bộ được đánh dấu bằng sự nhận thức và kết quả hoạt động thực tiễn, sự tu dưỡng đạo đức của học viên trong kháng chiến.
Trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 70 năm truyền thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Học viện là Trường Đảng có sứ mệnh ưu tiên hàng đầu là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cho Đảng và toàn hệ thống chính trị thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ngang tầm với nhiệm vụ, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với sự nghiệp cách mạng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”(6).
GS, TS. Nguyễn Xuân Thắng – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Trong mọi hoàn cảnh, Học viện luôn kiên định giáo dục, tuyên truyền và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng; kiên quyết đấu tranh bác bỏ các luận điệu sai trái; bảo vệ và phát triển những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ quan điểm, đường lối của Ðảng”(7).
Mục tiêu của Trường Đảng miền Nam – Học viện Chính trị khu vực II là đào tạo những chiến sĩ tiên phong, kiên định, trung thành với lý tưởng cộng sản. Đó là những thủ lĩnh chính trị có bản lĩnh, có tri thức khoa học, có năng lực thực tiễn, nhằm giải quyết những tình huống khó, phức tạp trong lãnh đạo, quản lý giai đoạn hiện nay. Bởi, cuộc sống luôn vận động, luôn sản sinh ra những tri thức mới và luôn đặt ra những vấn đề mới cần nhận thức và giải quyết kịp thời. Đồng thời, thông qua môi trường Trường Đảng, phải đào tạo, rèn luyện được đội ngũ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo, dám quyết đoán hành động, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới vì lợi ích chung. “Đổi mới”, “Sáng tạo” cũng là tinh thần chủ đạo của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện. “Đổi mới” không tách rời “sáng tạo”, vì đó không chỉ là “làm khác”, mà phải gắn với kết quả tích cực, những giá trị mới có ý nghĩa lan tỏa, có tác động lớn.
Hai là, chương trình đào tạo bảo đảm tính Đảng, tính khoa học, tính thực tiễn
Tháng 9/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong trang đầu của cuốn sổ vàng khi Người đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, tiền thân của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngày nay: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”(8). Để thực hiện được mục tiêu trên, chương trình đào tạo cần phải bảo đảm tính Đảng, tính khoa học, tính thực tiễn.
Tính Đảng là quá trình tổ chức giảng dạy đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Biểu hiện cao nhất của tính Đảng trong mỗi bài giảng được thể hiện ở việc gắn chặt những nguyên lý, lý luận với thực tiễn công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng đã xác định. Cơ sở để thực hiện điều này chính là những tổng kết, khái quát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ những biến đổi to lớn về mọi mặt trong đời sống xã hội đã thể hiện trong các văn kiện Đảng. Đó là những nội dung căn bản, những nguyên tắc mà trong bài giảng lý luận không thể không đề cập đến. Nguyên tắc tính Đảng còn đòi hỏi phải kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch muốn phủ nhận học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, với những luận cứ khoa học, bài giảng phải làm rõ tính đúng đắn của học thuyết Mác – Lênin, từ đó bảo vệ sự trong sáng và khẳng định tính khoa học và cách mạng của hệ thống lý luận này.
Trong quá trình giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị không thể tách rời tính khoa học khỏi tính Đảng và ngược lại. Bởi vì, làm như vậy, bản thân khoa học sẽ mất hiệu lực và không thể giải quyết những vấn đề quan trọng mà khoa học lịch sử đã đặt ra. Kết hợp đúng đắn giữa tính khoa học và tính Đảng sẽ làm cho việc nghiên cứu lịch sử hiệu quả hơn. Từ sự nhận thức mối quan hệ giữa tính khoa học và tính Đảng, đòi hỏi cả học viên và giảng viên phải đồng thời rèn luyện lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt các nguyên tắc mácxít – lêninnít vào nghiên cứu, nâng cao nghiệp vụ, bồi dưỡng chuyên môn khoa học.
Tuy nhiên, thực tiễn luôn vận động không ngừng, vì vậy, trong quá trình tổ chức giảng dạy, học tập, đòi hỏi giảng viên và học viên khi gặp vấn đề phải đặt câu hỏi: Vì sao có vấn đề này? Giải quyết vấn đề này trên cơ sở nào? “Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra thảo luận cho vỡ lẽ… tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Phải suy nghĩ chín chắn”(9). Sau đó, phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, cẩn thận cả lý luận và thực tiễn, không né tránh, phải nhìn thẳng vào sự thật, lý giải trung thực, khách quan, toàn diện, tránh chủ quan duy ý chí, vì giải quyết lý luận không thấu đáo, vô hình trung gây tâm lý hoài nghi đối với người học.
Chương trình học tập lý luận chính trị bảo đảm tính Đảng, tính khoa học, tính thực tiễn là yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, bởi đổi mới luôn yêu cầu tư duy sáng tạo, năng động, hướng tới cái mới, cái tiến bộ. Đồng thời khắc phục căn bệnh duy ý chí, kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường tổng kết thực tiễn, tổng kết lý luận. Chương trình học như vậy sẽ giúp học viên phát huy khả năng sáng tạo trong học tập, củng cố những kiến thức đã học, đúc rút kinh nghiệm trong thực tế công tác tại đơn vị, địa phương; đồng thời, khắc phục thói lười học, ngại học lý luận chính trị ở chính mỗi giảng viên và học viên.
Ba là, đội ngũ cán bộ, giảng viên – lực lượng then chốt quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học – được đào tạo bài bản, có khả năng nghiên cứu khoa học, giảng dạy, có bản lĩnh chính trị, tâm huyết với nghề, không ngừng sáng tạo
Với chức năng, nhiệm vụ của Học viện Chính trị khu vực II, đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải đồng thời là nhà giáo, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, am hiểu sâu sắc lý luận, có bản lĩnh vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng. Bởi đội ngũ giảng viên chính là những người trực tiếp tham gia đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản, mà còn tạo dựng niềm tin, thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, giúp người học có tư duy, lý tưởng. Đồng thời, giảng viên còn cung cấp hệ thống lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp học viên vận dụng sáng tạo trong thực tiễn, giải quyết công việc đạt hiệu quả cao. Vì vậy, giảng viên Trường Đảng phải luôn kiên trì học tập, tăng cường nghiên cứu khoa học để trở thành chuyên gia thực thụ về chuyên ngành giảng dạy, để đánh thức tư duy người học, “lấy người học làm trung tâm”. “Không ngừng đổi mới và phát triển” là nguyên tắc, mệnh lệnh đối với mỗi giảng viên Trường Đảng. Đây cũng là điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của Học viện và bản thân mỗi người học, mỗi giảng viên Học viện. Từ đó, đạt được mục tiêu đào tạo một thế hệ cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có trình độ khoa học kỹ thuật cao, có nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, quản trị chất lượng theo yêu cầu của từng cấp (từ Trung ương đến địa phương), để đảm đương trọng trách điều hành nền kinh tế, nền hành chính quốc gia.
75 năm xây dựng, phát triển, các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên tự hào tiếp nối truyền thống Trường Đảng miền Nam, luôn ý thức trách nhiệm trước Đảng, đổi mới liên tục trên các lĩnh vực hoạt động, không ngừng hoàn thiện để thực sự là trung tâm uy tín về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị – xã hội tại khu vực Nam Bộ; tiếp tục phát huy truyền thống là cái nôi đào tạo các chuyên ngành lý luận chính trị./.

—————————

(1) và (2) Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Những sự kiện lịch sử Đảng, t.II (1945 – 1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, tr.200 và 200
(3) Trích bài viết cùa đồng chí Nguyễn Minh Triết, trong cuốn sách “Đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh – Người chiến sĩ cộng sản kiên cường”, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2016, tr. 42
(4) Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ, Những viên ngọc quý, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.71
(5) và (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.95 và 98-99
(6) https://nhandan.vn/hoc-vien-chinh-tri-quoc-gia-ho-chi-minh-ky-niem-70-nam-truyen-thong-post370928.html
(7) http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/cung-ban-doc/item/3205-nam-1949-truong-dang-mien-nam-nay-la-hoc-vien-chinh-tri-khu-vuc-ii-duoc-thanh-lap-ra-doi-va-truong-thanh-trong-nhung-nam-thang-nam-bo-tien-hanh-cac-cuoc-khang-chien-chong-xam-luoc-giai-phong-dan-toc-thong-nhat-dat-nuoc-vuot-len-moi-kho-khan-gi.html
(8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Sđd, tr.208

(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 01_2024)