PGS, TS. NGUYỄN VĂN THÀNH – Hội đồng lý luận Trung ương
TS. ĐẶNG THÀNH LÊ – Học viện Hành chính Quốc gia

Tóm tắt: Thời gian qua, với sự lãnh đạo của các cấp, các ngành, hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã đạt nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tuy nhiên, hiệu lực, hiệu quả trên nhiều mặt còn hạn chế, trong đó có những hạn chế trong việc thực hiện chính sách, pháp luật; năng lực của cán bộ, công chức, viên chức; thủ tục hành chính; tổ chức bộ máy. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên môn ở địa phương, cần có các giải pháp đồng bộ, hiệu quả cả về thể chế, chỉ đạo, nhân sự và bộ máy. Điều này cần có quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hải Phòng.
Từ khóa: cơ quan chuyên môn; hiệu quả hoạt động; thành phố Hải Phòng

1. Khái quát về các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng
Thực hiện Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố Hải Phòng đã xây dựng, hoàn thiện tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố. Hiện nay, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố gồm 19 cơ quan (Sở Công thương, Sở Giao thông vận tải, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Ngoại vụ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thông, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp, Sở Xây dựng, Sở Du lịch, Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Văn hóa – Thể thao, Sở Y tế, Thanh tra Thành phố).
Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân Thành phố quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc uỷ quyền của Ủy ban nhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố. Về nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố được quy định cụ thể trong các quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố, trong đó, trình Ủy ban nhân dân thành phố Dự thảo quyết định, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, quyết định việc phân cấp, ủy quyền nhiệm vụ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực… tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hành pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao; kiểm tra, thanh tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố.
2. Thực trạng hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng
Thời gian qua, với sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân đã không ngừng nỗ lực, đổi mới tổ chức và hoạt động nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần không nhỏ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các mặt kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Cụ thể:
Thứ nhất, công tác tổ chức thi hành pháp luật của các cơ quan chuyên môn của thành phố đã được quan tâm, triển khai thực hiện kịp thời. Hầu hết các văn bản do các cơ quan Trung ương ban hành đều được thành phố ban hành thành các chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện; xác định rõ thời hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị. Hằng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đều ban hành kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn. Trên cơ sở kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố, các sở, ngành, Ủy ban nhân dân các quận, huyện đã chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện các nội dung theo dõi thi hành pháp luật của ngành, địa phương mình quản lý.
Thứ hai, công tác cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, mang lại kết quả thiết thực. Ngày 15/6/2017, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Chỉ thị số 34/CT-UBND về việc đẩy mạnh thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông – hiện đại. Trên cơ sở đó, các sở, ban, ngành của thành phố có các biện pháp, giải pháp cụ thể giảm tỷ lệ hồ sơ quá hạn trong giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; thực hiện nghiêm quy định về việc xin lỗi công khai xin lỗi trong giải quyết thủ tục hành chính; thực hiện nghiêm túc việc ký cam kết không gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực; các cơ quan, đơn vị, địa phương đã chủ động, mạnh dạn đề xuất thực hiện hoặc thí điểm thực hiện những mô hình, cách làm mới, hiệu quả, có tính khả thi và có sự đồng thuận cao từ phía tổ chức, doanh nghiệp, người dân để tạo sự đột phá trong triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông.
Thứ ba, công tác phối hợp trong việc giải quyết các công việc ngày càng có hiệu quả. Một trong những điển hình là việc phối hợp giữa Cục Thuế thành phố Hải Phòng, Kho bạc Nhà nước thành phố, Công an thành phố trong thực hiện liên thông đối với các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp. Cục Hải quan thành phố Hải Phòng, Cục Thuế thành phố Hải Phòng, Cảng vụ Hải Phòng liên thông với các cơ quan chuyên môn, địa phương của thành phố thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính về hải quan, thuế, cảng vụ. Các thủ tục từ khâu chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư, giao đất, cho thuê đất, giải phóng mặt bằng, triển khai thực hiện dự án – những thủ tục trước đây phải giải quyết tại nhiều cơ quan, như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường thì nay đã được thực hiện thống nhất, tập trung, trực tiếp từ việc tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính tại Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch.
Thứ tư, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố không ngừng được tăng cường. Trong giai đoạn 2011 – 2020, Ủy ban nhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành hơn 30 quyết định, chỉ thị, quy định nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Ngay sau khi có văn bản chỉ đạo của thành phố, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành các văn bản triển khai thực hiện đến các cơ quan, đơn vị trực thuộc để thực hiện. Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập nhiều đoàn kiểm tra đột xuất việc thực thi nhiệm vụ, công vụ tại các cơ quan, địa phương trong toàn thành phố, phân công các lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố làm trưởng các đoàn kiểm tra. Việc kiểm tra được bảo đảm yếu tố khách quan, kiểm tra bằng hình thức đột xuất. Do đó kết quả kiểm tra phản ánh trung thực việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, đơn vị được kiểm tra.
Thứ năm, tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố được quan tâm kiện toàn. Năm 2014, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 thay thế Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 08/02/2008 của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân thành phố đã triển khai ngay việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sắp xếp tổ chức bộ máy của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và sắp lại tổ chức bên trong của các sở, ngành theo hướng tinh gọn, giảm đơn vị đầu mối nhưng vẫn đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Đến nay, thành phố có 19 sở, 01 Ban Quản lý Khu kinh tế (tăng 01 sở so với năm 2014 – Sở Du lịch); có 169 phòng chuyên môn, chi cục và tương đương (gồm có: 148 phòng chuyên môn, 21 chi cục và tương đương (giảm 10 phòng và 01 chi cục so với năm 2014)(1).
Thứ sáu, hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố trên một số lĩnh vực đã được cải thiện đáng kể so với trước đây, trong đó có lĩnh vực tài nguyên và môi trường do Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý. Cụ thể, thời gian qua, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố đã nghiên cứu, đơn giản hóa thủ tục hành chính giúp cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức thực hiện các công việc được hiệu quả hơn: thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thời gian giải quyết không quá 15 ngày; thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi thay đổi tài sản gắn liền với đất, thời gian giải quyết không quá 15 ngày; thủ tục tách thửa, hợp thửa đất; thủ tục đăng ký đất đai đối với trường hợp được Nhà nước giao đất để quản lý, thời gian giải quyết không quá 15 ngày; thủ tục gia hạn sử dụng đất, thời gian giải quyết không quá 07 ngày; thủ tục đăng ký biến động, thời gian giải quyết không quá 10 ngày; thủ tục xóa đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, thời gian giải quyết không quá 03 ngày.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chính quyền và nhân dân thành phố đã nhìn nhận, đánh giá khách quan hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các sở, ban ngành của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng còn tồn tại không ít hạn chế, bất cập. Một số hạn chế, bất cập nổi cộm như:
Một là, công tác tham mưu xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố còn chậm, chất lượng chưa cao. Chất lượng tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu, chưa có bước đột phá, còn khuôn cứng theo quy định, chưa có sáng tạo phù hợp với thực tiễn. Khâu đánh giá tác động kinh tế – xã hội của văn bản chưa được coi trọng trong quá trình soạn thảo dẫn đến khi ban hành, tính khả thi của văn bản không cao. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của các sở và cơ quan tương đương tuy có chuyển biến tích cực nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ và các tầng lớp nhân dân chưa cao nên tình trạng vi phạm pháp luật còn diễn biến phức tạp.
Ngoài ra, kinh phí bảo đảm cho hoạt động cải cách thể chế ở địa phương đã được quy định nhưng còn hạn chế; đặc biệt, chưa quy định nguồn kinh phí để bảo đảm cho công tác xây dựng chính sách, trong khi nội dung báo cáo đánh giá tác động chính sách khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh là một nội dung mới, qua nhiều quy trình theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Hai là, việc cải cách thủ tục hành chính ở các sở, ngành của thành phố còn không ít bất cập. Một số sở, ngành chưa thực sự chủ động, tích cực trong việc cập nhật các quyết định công bố của các bộ, ngành để lập hồ sơ trình công bố; chưa kịp thời công khai nội dung thủ tục hành chính mới được công bố trên Cổng Thông tin điện tử của đơn vị và hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã khai thác, cập nhật thủ tục hành chính theo thẩm quyền. Việc niêm yết, công khai thủ tục hành chính mới ban hành tại bộ phận một cửa của một số sở, ngành còn chưa được kịp thời, đầy đủ. Việc khai thác, vận hành Hệ thống một cửa điện tử và Dịch vụ công trực tuyến thành phố đối với các đơn vị cấp xã còn chậm trễ. Ngoài ra, nhiều hồ sơ thủ tục hành chính bị thông báo quá hạn trên Hệ thống trong khi đã được xử lý đúng hạn trên thực tế. Việc xây dựng quy trình nội bộ, quy trình điện tử giải quyết thủ tục hành chính và cập nhật trên hệ thống một cửa điện tử và dịch vụ công trực tuyến của nhiều sở, ngành còn lúng túng, chậm trễ.
Ba là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thanh tra, kiểm tra công vụ của người đứng đầu đối với cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý ở một số sở, ngành chưa thực sự được quan tâm; việc kiểm tra công vụ chủ yếu tập trung vào bề nổi (giờ giấc, đeo thẻ, tác phong, văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành nhiệm vụ, công vụ…), chưa quan tâm sâu đến kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của công chức theo đề án vị trí việc làm. Chất lượng một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu, chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ; một bộ phận cán bộ, công chức kiến thức pháp luật, chuyên môn, kỹ năng hành chính còn hạn chế; tinh thần trách nhiệm chưa cao, chất lượng tham mưu, đề xuất và giải quyết công việc yếu; ở một số lĩnh vực nhạy cảm vẫn còn biểu hiện phiền hà, sách nhiễu, vô cảm.
Bốn là, việc kiện toàn, sắp xếp chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố chủ yếu mới triển khai theo đúng quy định của Trung ương; chưa có những giải pháp đủ mạnh, để đột phá, giải quyết dứt điểm những vướng mắc, bất cập của hệ thống chính sách pháp luật về tổ chức bộ máy, nhằm thực hiện có hiệu lực, hiệu quả hơn công tác quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực trên địa bàn thành phố. Trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, đã hình thành một số sở đa ngành đa lĩnh vực; mặc dù giảm đầu mối các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố nhưng việc thành lập chi cục trực thuộc sở theo các quy định của Trung ương hướng gia tăng, làm tăng tổ chức, tăng biên chế. Số lượng các phòng chuyên môn thuộc các sở tương đối lớn, chưa được sắp xếp thực sự tinh gọn. Số lượng các phòng chuyên môn còn tổ chức giống nhau giữa quận với quận, giữa huyện với huyện; không phản ánh được đặc thù của từng quận, huyện và tổ chức bộ máy giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).
Năm là, thực trạng về bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố còn nhiều bất cập. Năm 2011, tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các sở, ngành vẫn còn có sự chồng chéo; cơ cấu tổ chức bên trong cồng kềnh dẫn đến hoạt động quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực còn lúng túng, không rõ trách nhiệm, có tình trạng đùn đẩy; hoạt động của một số đơn vị thiếu hiệu quả, lãng phí nguồn lực ngân sách nhà nước cho cơ sở vật chất và con người; còn chồng chéo về nhiệm vụ (nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm giữa Sở Y tế, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; nhiệm vụ quản lý nhà nước về kỹ thuật hạ tầng giao thông đô thị giữa Sở Xây dựng và Sở Giao thông vận tải; nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…).
Nguyên nhân của các hạn chế nêu trên bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó nổi bật là:
– Nhiều văn bản của Trung ương hướng dẫn thi hành các luật còn chậm; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Trung ương vẫn chưa đảm bảo được tính đồng bộ, thống nhất, vẫn còn tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo; nhiều văn bản có nội dung chưa cụ thể hoặc chưa phù hợp với thực tiễn của địa phương. Tính chủ động trong công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở một số sở, ngành của thành phố chưa cao; năng lực vận dụng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở một số sở, ngành còn yếu.
– Các quy định về thủ tục hành chính có sự thay đổi nên phải thường xuyên cập nhật, công khai và điều chỉnh quy trình thực hiện. Một số bộ, ngành trung ương chậm thực hiện việc công bố thủ tục hành chính. Chức năng, nhiệm vụ thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính và các văn bản quy định của Trung ương về công tác này thay đổi nhiều nên không đảm bảo tính ổn định, mất nhiều thời gian để thiết lập hệ thống đầu mối và tập huấn, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ.
– Việc triển khai các chủ trương, giải pháp của thành phố về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của các sở, ngành còn chậm, thiếu sự chủ động khi được giao thực hiện.
– Các quy định về tổ chức bộ máy có sự cào bằng giữa các tỉnh, thành phố với các tỉnh miền núi, nông thôn; do vậy, không phát huy được hiệu quả quản lý nhà nước theo lãnh thổ gắn với ngành, lĩnh vực và chưa tạo được cơ chế khuyến khích thành phố chủ động trong quản lý về tổ chức bộ máy.
– Một số văn bản hướng dẫn của Trung ương về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh còn chồng chéo, trùng lặp, do vậy, khi triển khai có vướng mắc, làm giảm hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn. Bên cạnh đó, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các sở, ngành có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các cơ quan, đơn vị nên sự vào cuộc của các cơ quan, đơn vị hạn chế, chưa tích cực.
3. Một số đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng
Một là, nâng cao hiệu quả công tác tham mưu xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố cần chủ động tham mưu ban hành những cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện, đặc điểm của địa phương. Các cơ quan có thẩm quyền của thành phố tăng cường công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; kịp thời xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật phát hiện sau kiểm tra; thường xuyên thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo tính kịp thời, phù hợp, tính thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, các sở, ngành của thành phố tiếp tục triển khai thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật, tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm, ảnh hưởng lớn đến đời sống, xã hội; tăng cường hoạt động điều tra, khảo sát việc tổ chức thực hiện pháp luật.
Hai là, nâng cao hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính
Các sở, ngành của thành phố Hải Phòng cần nghiên cứu, đẩy mạnh thực hiện Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ và Thông tư số 01/2018/TT-VPCP ngày 23/11/2018 của Văn phòng Chính phủ về cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Vận hành hiệu quả, thông suốt Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công của thành phố. Kiểm soát chặt chẽ việc quy định thủ tục hành chính trong đề nghị xây dựng pháp luật và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Luật Ban hanh văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Tiếp đến, thực hiện hiệu quả, thực chất việc đơn giản hóa thủ tục hành chính (giảm thời gian, giảm chi phí, giảm hồ sơ), đặc biệt là các thủ tục hành chính liên quan nhiều đến người dân, doanh nghiệp và đẩy mạnh cung cấp, sử dụng dịch vụ bưu chính công ích, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4.
Ba là, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Thời gian tới, các sở, ngành của Thành phố cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp sau: 1) Tiếp tục đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực. Đề cao trách nhiệm và đạo đức công vụ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo, điều hành và thực thi công vụ của cán bộ, công chức. 2) Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin, các mô hình, phương pháp, công nghệ hiện đại trong công tác tuyển dụng, nâng ngạch, thăng hạng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. 3) Triển khai thực hiện tinh giản biên chế; đưa ra khỏi hệ thống những cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng yêu cầu. 4) Tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực. 5) Tập trung phát triển, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Đề xuất, xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp, đặc thù theo quy định của pháp luật đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của các sở, ngành của Hải Phòng.
Bốn là, sắp xếp, kiện toàn tổ chức các cơ quan chuyên môn
Cần sớm triển khai việc sắp xếp, kiện toàn lại các cơ quan chuyên môn, tổ chức thuộc, trực thuộc cơ quan chuyên môn; đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc sở, ngành đảm bảo theo quy định tại Nghị định số 107/2020/NĐ-CP, Nghị định số 108/2020/NĐ-CP, Nghị định số 120/2020/NĐ-CP và theo phương án sắp xếp đã được Ban Thường vụ Thành ủy cho ý kiến. Việc sắp xếp, kiện toàn các cơ quan, đơn vị đảm bảo tinh gọn, hợp lý, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan, đơn vị. Cụ thể:
Về số lượng phó giám đốc sở: Nghiên cứu, tổ chức số phó giám đốc sở và tương đương không quá 57 người. Yêu cầu 11 sở, ngành có 03 phó giám đốc, gồm: Sở Nội vụ; Sở Công Thương; Sở Giao thông vận tải; Sở Xây dựng; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội; Sở Văn hóa và Thể thao; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Y tế; Sở Tư pháp; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Thanh tra thành phố. Tại 04 sở, ngành có không quá 04 phó giám đốc: Sở Tài chính; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Tài nguyên và Môi trường; Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố. Tại 04 sở, ngành có không quá 03 phó giám đốc, gồm: Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Thông tin và Truyền thông; Sở Ngoại vụ; Sở Du lịch(2).
Về phòng chuyên môn và tương đương thuộc sở, ngành: Nghiên cứu giảm 05 phòng chuyên môn và giải thể 02 chi cục, cụ thể: các sở, ngành sau mỗi đơn vị giảm 01 phòng chuyên môn, gồm: Sở Thông tin và Truyền thông; Sở Văn hóa và Thể thao; Sở Ngoại vụ; Sở Du lịch; Sở Giáo dục và Đào tạo; Thanh tra Thành phố. Sở Khoa học và Công nghệ giảm 02 phòng chuyên môn. Trong khi đó, tăng 03 phòng: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng 01 phòng chuyên môn (giải thể Chi cục Phát triển nông thôn; để thành lập phòng chuyên môn thuộc sở); Sở Tài nguyên và Môi trường tăng 02 phòng chuyên môn (giải thể Chi cục Quản lý đất đai để thành lập 02 phòng chuyên môn thuộc Sở).
Về phòng chuyên môn thuộc chi cục và tương đương: Đề xuất giảm 20 phòng, cụ thể: Sở Nội vụ: giảm 02 phòng (01 phòng thuộc Ban Thi đua – Khen thưởng; 01 phòng thuộc Ban Tôn giáo); Sở Xây dựng: giảm 03 Đội Thanh tra thuộc Thanh tra Sở; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội: giảm 01 phòng thuộc Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội; Sở Y tế: giảm 02 phòng (01 phòng thuộc Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình; 01 phòng thuộc Chi cục Vệ sinh an toàn thực phẩm); Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: giảm 09 phòng (03 phòng, đơn vị thuộc Chi cục Kiểm lâm; 01 phòng thuộc Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản; 01 phòng thuộc Chi cục Thủy sản và 04 phòng thuộc Chi cục Phát triển nông thôn do giải thể Chi cục), đồng thời rà soát, sắp xếp các trạm thuộc các Chi cục đảm bảo theo quy định; Sở Tài nguyên và Môi trường: giảm 03 phòng thuộc Chi cục Quản lý đất đai do giải thể Chi cục(3).
Đối với các phòng chuyên môn và tương đương thuộc sở, ngành: cần nghiên cứu, tổ chức theo hướng tiêu chí thành lập phòng chuyên môn gồm: (1) Có chức năng, nhiệm vụ tham mưu về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của sở; (2) Khối lượng công việc yêu cầu bố trí tối thiểu 06 biên chế (trừ biên chế thanh tra sở). Riêng đối với Thanh tra sở không quy định phải bố trí tối thiểu 06 biên chế.
Về tiêu chí bố trí số lượng phó trưởng phòng chuyên môn, nghiệp vụ: Phòng có dưới 09 biên chế công chức được bố trí 01 phó trưởng phòng; Phòng có từ 09 đến 14 biên chế công chức được bố trí không quá 02 phó trưởng phòng; Phòng có từ 15 biên chế công chức trở lên được bố trí không quá 03 Phó Trưởng phòng.
Về số lượng phó chánh thanh tra sở: Thanh tra sở có dưới 08 biên chế công chức được bố trí 01 phó chánh thanh tra; Thanh tra sở có từ 08 biên chế công chức trở lên được bố trí không quá 02 phó chánh thanh tra(4)./.

—————————————————–

(1) Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Báo cáo số 117/BC-UBND ngày 03/7/2020 về tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, định hướng giai đoạn 2021 – 2030 của thành phố Hải Phòng
(2), (3) và (4) Ủy ban nhân dân thành phố Hải phòng, Kế hoạch số 57/KH-UBND ngày 11/3/2022 về triển khai thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các sở, ngành; các cơ quan hành chính trực thuộc sở, ngành; phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện; các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thành phố theo quy định của Chính phủ

(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 08_2022)