TRẦN KHẮC VIỆT(*)
(*) PGS, TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Trên cơ sở thống nhất quan niệm dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, sự cần thiết và cơ sở của việc dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, bài viết phân tích nội dung và cách thức phát huy vai trò của nhân dân trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng.
Từ khóa: dựa vào nhân dân; Đảng Cộng sản Việt Nam; phương thức lãnh đạo
1. Quan niệm chung về dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng
Luận điểm “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong tác phẩm Thường thức chính trị viết năm 1953: “Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng”(1). Từ Báo cáo của Bộ Chính trị về bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng tại Hội nghị Trung ương chín khóa VII ngày 06/11/1995(2) đến Thông báo ý kiến của Bộ Chính trị ngày 06/5/2010 về việc xuất bản và Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991 – 2011)(3), Đảng đều thống nhất và nhiều lần khẳng định luận điểm này. Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng xác định đây là nguyên tắc(4). Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” là một chủ trương lớn để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Như vậy, có thể thấy, quan điểm “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” đã được Đảng khẳng định trong thời kỳ đổi mới.
Tuy Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt mệnh đề “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” cùng với và sau mệnh đề “thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân”, nghĩa là trong công tác dân vận, nhưng theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chung của Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng chủ yếu và trước hết để xây dựng nội bộ Đảng trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo đảm Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ta đều xác định phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, bao gồm cả việc xây dựng mới, bồi đắp, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và việc chỉnh đốn Đảng, khắc phục các hạn chế, khuyết điểm của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Như vậy, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là phát huy vai trò của nhân dân trong cả xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng.
Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng bao hàm cả việc dựa vào nhân dân để đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Trong thời gian dài trước đổi mới, các văn kiện của Đảng đều xác định xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Hiện nay, Đảng xác định, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tuy nhiên, trong văn kiện các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng ở thời kỳ đổi mới đều có riêng mục về phương thức lãnh đạo của Đảng; Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, như Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 30/7/2007 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”. Thực tiễn cho thấy, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là nội dung của công tác xây dựng Đảng. Do đó, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng cũng bao hàm việc dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
2. Sự cần thiết và cơ sở của việc dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
– Sự cần thiết phải dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Một là, “dân là gốc” của nước, là lực lượng chủ lực của cách mạng, là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực của công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, nên nhân dân cũng là chủ thể của công tác xây dựng Đảng, trong đó có đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kinh nghiệm trong nước và các nước cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(5). Thắng lợi của cách mạng nước ta, thành tựu của công cuộc đổi mới những năm qua đã khẳng định rõ vai trò to lớn của nhân dân đối với công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Hai là, nhân dân là những người thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, thi hành chính sách và pháp luật của Nhà nước, nên cần huy động, phát huy vai trò của nhân dân trong việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong”(6). Sự tham gia, giúp sức của nhân dân không chỉ trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, mà còn đóng góp vào hoạt động lãnh đạo, đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Ba là, nhân dân tham gia xây dựng Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là để đất nước phát triển nhanh, bảo đảm quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân, nhân dân có cuộc sống tốt đẹp hơn
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đúng đắn, có hiệu quả cao rốt cuộc cũng là để thúc đẩy đất nước phát triển, bảo đảm quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân. Đảng không có mục đích gì khác ngoài mục đích phục vụ nhân dân. Xây dựng Đảng là để Đảng phục vụ nhân dân tốt hơn, xứng đáng hơn với niềm tin của nhân dân. Vì vậy, nhân dân tham gia xây dựng Đảng càng nhiều, Đảng càng mạnh, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng hiệu quả, đất nước phát triển, dân chủ được phát huy, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao.
– Cơ sở của việc dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Một là, nhân dân có đủ trí tuệ, năng lực đóng góp vào việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận”(7); “Nhân dân có hàng chục triệu tai mắt. Việc gì họ cũng có thể nghe, có thể thấy, có thể biết”(8), nên “nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”(9). Qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng đã đúc kết: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân, qua thực tiễn phong phú của nhân dân, tiến hành tổng kết, từng bước tìm ra quy luật các mặt của cuộc sống để đi lên – đó là chìa khóa của thành công”(10).
Hai là, không ngại dựa vào nhân dân sẽ thành “theo đuôi quần chúng”
Trong những năm đầu mới giành được chính quyền, cơ cấu xã hội khá phức tạp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng”(11); “Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”(12). Đến nay, trải qua gần 40 năm đổi mới, Đảng luôn thể hiện rõ tinh thần trọng dân, tin dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và tuyệt đại đa số nhân dân luôn thể hiện tinh thần yêu nước, gắn bó với chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nhân dân biết cảnh giác với các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân của các thế lực thù địch và các phần tử xấu.
Ba là, dựa vào nhân dân trước hết và chủ yếu là dựa vào các cơ quan, tổ chức đại diện của nhân dân
Dựa vào nhân dân trước hết là dựa vào các cơ quan, tổ chức đại diện của nhân dân (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội). Các cơ quan, tổ chức đại diện của nhân dân sẽ tập hợp ý kiến của nhân dân, chắt lọc những ý kiến hợp lý, được đa số đồng tình phản ánh với Đảng và thay mặt nhân dân giám sát tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, gạt bỏ, loại trừ những ý kiến không mang tính xây dựng và có động cơ không trong sáng.
3. Nội dung dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Một là, dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn
Một trong những nội dung phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn. Phát huy trí tuệ của nhân dân để hoàn thiện đường lối, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng”(13); “Nếu trong những chính sách, những chỉ thị, những khẩu hiệu của cấp trên, có gì khuyết điểm, cán bộ phải có tinh thần phụ trách trước nhân dân mà đề nghị những chỗ nên sửa đổi”(14) và “phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng”(15). Đại diện cho nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện việc góp ý, phản biện xã hội đối với các dự thảo pháp luật, chính sách, chương trình, kế hoạch công tác của các cơ quan nhà nước, nhất là những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn; giám sát việc Đảng lãnh đạo các cơ quan nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng.
Hai là, dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân”(16). Trong lãnh đạo, cầm quyền bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, Đảng theo dõi mức độ nhận thức, thái độ và diễn biến tư tưởng của các tầng lớp nhân dân để đổi mới, cải tiến nội dung và phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân. Đảng huy động các cán bộ, đoàn viên, hội viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, Quân đội, Công an, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan báo chí, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong công tác tuyên truyền, tăng cường sự đồng thuận, hưởng ứng tham gia của nhân dân, góp phần thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng.
Ba là, dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền thông qua tổ chức đảng và bằng công tác tổ chức, cán bộ
Căn cứ ý kiến của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, Đảng nghiên cứu, hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của các tổ chức đảng trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội từ Trung ương đến địa phương bảo đảm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và phù hợp với thực tiễn. Thực hiện việc lấy ý kiến nhân dân về mức độ hài lòng đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ và phục vụ nhân dân. Trên cơ sở đó, Đảng yêu cầu các tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, kịp thời khắc phục hạn chế, bất cập. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong phát hiện, giới thiệu người đủ đức và tài tham gia vào cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách vì lợi ích chung; kịp thời thay thế những cán bộ năng lực hạn chế;…
Quan tâm xây dựng, phát huy vai trò của đội ngũ cốt cán trong nhân dân. Thực tế cho thấy, bên cạnh đội ngũ cán bộ trong biên chế của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, những quần chúng tiêu biểu, có uy tín đối với nhân dân giữ vai trò rất quan trọng, đóng góp thiết thực cho các phong trào ở địa phương. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích : “Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém… người lãnh đạo phải dùng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do trung kiên đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém tiến lên”(17); “Bất kỳ việc gì (thí dụ việc chỉnh đốn Đảng), người lãnh đạo phải có một số người hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo… Nếu chỉ có sự hăng hái của quần chúng mà không có sự hăng hái của nhóm trung kiên để tổ chức và dìu dắt, thì sự hăng hái của quần chúng sẽ không bền và không thể tiến tới”(18).
Bốn là, dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền bằng công tác kiểm tra, giám sát
Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban chấp hành tổ chức chính trị – xã hội với cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp trong việc kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong giám sát việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ các cấp; dựa vào nhân dân để giám sát cán bộ, đảng viên, công chức trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Năm là, dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền bằng hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên
Nhân dân thực hiện quyền giám sát cán bộ, đảng viên thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Qua quan sát, giao tiếp với người đứng đầu, các cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên, nhân dân cung cấp thông tin để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tập hợp, phản ánh với cấp ủy về cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định ở nơi làm việc và nơi cư trú. Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội kịp thời đánh giá, báo cáo bằng văn bản hoặc phản ánh trực tiếp với cấp ủy, tổ chức đảng cùng cấp; đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, kiểm tra, xử lý kết quả giám sát; theo dõi việc xử lý kết quả giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo xem xét, giải quyết, thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội; nếu xác định cán bộ, đảng viên có vi phạm thì cấp ủy, tổ chức đảng phải xem xét, xử lý theo quy định. Trong quy chế làm việc của cấp ủy cần có quy định về việc mời đại diện lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tham dự các cuộc họp, hội nghị của cấp ủy, tổ chức đảng liên quan đến nội dung giám sát cán bộ, đảng viên; các cuộc đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị với cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các cá nhân có thành tích trong thực hiện giám sát cán bộ, đảng viên cần được biểu dương, khen thưởng.
4. Cách thức dựa vào nhân dân để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Một là, nhận thức đầy đủ vai trò của nhân dân, thật sự tin tưởng ở nhân dân, tránh bệnh kiêu ngạo, tự mãn, bao biện
Thật sự tin dân, Đảng mới tìm mọi cách để dựa vào nhân dân, huy động nhân dân tham gia và nhân dân cũng mới tích cực, thật lòng cùng với Đảng đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Các tổ chức đảng cần ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng ra sức làm”(19). Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mọi đảng viên “phải tin tưởng vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng; phải học hỏi quần chúng; phải đi đúng đường lối quần chúng để lãnh đạo quần chúng”(20). Người cũng căn dặn: “Chúng ta phải tẩy sạch các bệnh kiêu ngạo, bệnh hẹp hòi, bệnh bao biện”(21); “Chúng ta phải tuyệt đối chống bệnh kiêu ngạo, phải luôn luôn khiêm tốn. Mọi công tác phải dựa hẳn vào quần chúng, hoan nghênh quần chúng đôn đốc và kiểm tra”(22).
Hai là, sử dụng các hình thức thích hợp, thiết thực để thu hút nhân dân tham gia vào việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng có phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiều tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên ở các cấp, các lĩnh vực. Vì vậy, cần có các hình thức tổ chức phù hợp để phát huy vai trò của toàn thể nhân dân và từng đối tượng nhân dân ở từng địa phương, từng cơ quan trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Điều quan trọng hiện nay là phải xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa dựa vào nhân dân một cách trực tiếp và dựa vào nhân dân thông qua các tổ chức đại diện của nhân dân để tránh hình thức.
Ba là, xây dựng, hoàn thiện cơ chế, quy chế, quy định cụ thể để phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng yêu cầu: “Nghiên cứu, ban hành cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ”(23). Trước mắt, các cấp ủy, tổ chức đảng phải thực hiện nghiêm trách nhiệm đã được quy định trong Quyết định số 23-QĐ/TW ngày 30/7/2021 của Bộ Chính trị “về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”; Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị “quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân” và Quy định số 13-QĐ/UBKTTW ngày 18/9/2019 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương “về tiếp nhận, xử lý đơn thư, tiếp đảng viên và công dân”.
Bốn là, cán bộ lãnh đạo cần đi sâu, đi sát, lắng nghe và nghiêm túc tiếp thu ý kiến của nhân dân; bàn bạc, đối thoại với nhân dân; thành tâm nhận khuyết điểm trước nhân dân và kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm
Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng liên quan trực tiếp và chủ yếu đối với các cơ quan lãnh đạo của Đảng trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội ở các cấp, trong đó, các cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ cấp ủy, nhất là người đứng đầu, có vai trò rất quan trọng. Để đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đội ngũ cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu, phải ý thức đầy đủ tầm quan trọng và trách nhiệm của tổ chức đảng trong việc dựa vào nhân dân, phải thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; tìm hiểu kỹ ý kiến của nhân dân về những phương thức lãnh đạo phù hợp, hiệu quả và những phương thức lãnh đạo không phù hợp, những vướng mắc, nguyên nhân và giải pháp tháo gỡ./.
———————————————————–
(1), (9), (20) và (22) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.281, 498, 283 và 507
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, t.54, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007, tr.556
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, t.69, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr.517
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, t.65, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr.349
(5), (6), (11), (12), (13), (14), (15), (17), (18), (19) và (21) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Sđd, tr.335, 325, 333, 338, 333, 334, 338, 329-330, 329, 334 và 316
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.12, Sđd, tr.283
(8) và (16) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Sđd, tr.192 và 432
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, t.64, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.68
(23) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.249
(Tạp chí Khoa học chính trị Số 01_2025)







