ThS. HÀ THỊ VIỆT THÚY(*)
ThS. LÊ MINH XUÂN(**)

(*) và (**) Học viện Chính trị khu vực II,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là điểm nhấn quan trọng trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Để hiện thực hóa khát vọng này, cần thúc đẩy phát triển kinh tế, hướng tới tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên tăng năng suất lao động, nghĩa là phải nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bài viết phân tích thực trạng quá trình đổi mới sáng tạo ở Việt Nam, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, từ đó đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh đổi mới sáng tạo ở Việt Nam nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Từ khóa: khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; khát vọng phát triển đất nước

1. Đổi mới sáng tạo và khát vọng phát triển đất nước
Khái niệm “đổi mới sáng tạo” (Innovation) có quá trình hình thành gắn với cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Bởi, mỗi thành tựu khoa học đều là quá trình tìm tòi, nghiên cứu và phát triển, đổi mới quy trình và công nghệ, ứng dụng vào sản xuất.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về đổi mới sáng tạo, như Richard R.Nelson (1993)(1) cho rằng: “Đổi mới sáng tạo là quá trình chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc sản phẩm hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra cách tiếp cận mới trong lĩnh vực xã hội”. Hoặc, “đổi mới sáng tạo” là một sản phẩm, dịch vụ hay quy trình mới, được cải tiến, được đưa ra thị trường và tạo ra giá trị(2). Có thể thấy, đổi mới sáng tạo là nói đến những yếu tố bao trùm các hoạt động của nền kinh tế, bao gồm yếu tố đầu vào (thể chế, nguồn lực và nghiên cứu, kết cấu hạ tầng, trình độ phát triển thị trường, trình độ phát triển kinh doanh) và đầu ra (sản phẩm kiến thức và công nghệ, sản phẩm sáng tạo), tất cả phải dựa trên tri thức mới và công nghệ mới (công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư).
Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, một trong những nội dung được nhắc lại nhiều lần tạo thành điểm nhấn của Đại hội là khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Ngay từ chủ đề Đại hội đến quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, các nhiệm vụ đột phá trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đều đề cập đến nội dung này. Cụ thể: cụm từ “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được nhắc đi nhắc lại tới 15 lần trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Khát vọng phát triển đất nước là khát vọng về một đất nước Việt Nam cường thịnh, đổi mới, dân tộc Việt Nam được hạnh phúc.
Khát vọng Việt Nam được thể hiện ở các mục tiêu cụ thể, đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam phải trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 – kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam vẫn là quốc gia đang phát triển, nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn, cùng với sự hạn chế về lao động và vốn. Do đó, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, cần hướng tới tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên tăng năng suất lao động, nghĩa là phải nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ cao vào quá trình nghiên cứu phát triển. Như vậy, đổi mới sáng tạo chính là yêu cầu tất yếu của thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh mới, đòi hỏi cấp bách của đất nước, nhất là trong bối cảnh ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Nhận thức được vai trò quan trọng của đổi mới sáng tạo, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia”(3). Bởi, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo ra năng suất lao động cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Có thể nói, chưa bao giờ nội hàm về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thể hiện một cách rõ nét như trong nội dung Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Nhiều báo cáo tham luận trình bày tại Đại hội đã đề cập sâu sắc về nội hàm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cả tầm tư duy chiến lược, định hướng chiến lược phát triển đất nước, thể hiện rất rõ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Thêm vào đó, vai trò, sứ mệnh của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được khẳng định mạnh mẽ ở 06 nhiệm vụ và 03 đột phá chiến lược trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Theo đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng quan trọng, là động lực chủ yếu trong phát triển đất nước để bắt kịp sự phát triển của khu vực và thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu(4). Vì vậy, “… phải đổi mới tư duy phát triển, thay đổi cách làm việc, cách sống, đẩy mạnh cải cách thể chế, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”(5).
2. Thực trạng đổi mới sáng tạo ở Việt Nam
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 2016 – 2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm(6). Mặc dù năm 2020, nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh COVID-19, thiên tai, bão lụt nghiêm trọng ở miền Trung, nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân 05 năm (2016 – 2020) ước đạt khoảng 6,0%, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới(7). Quy mô GDP bình quân của Việt Nam cũng tăng lên rất nhanh, từ 171,4 tỷ USD (năm 2011) lên 236,8 tỷ USD (năm 2015) và 340,6 tỷ USD (năm 2020)(8), tăng từ vị trí thứ 06 lên thứ 04 trong ASEAN (vượt qua Singapore và Malaysia)(9).
Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, xuất khẩu thô, lao động nhân công giá rẻ và mở rộng tín dụng, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng ngày càng cao, trong khi ngành khai khoáng có xu hướng giảm(10). Năng suất lao động cải thiện rõ nét, năm 2020 tăng gần 1,5 lần so với năm 2015; tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016 – 2020 đạt 5,9%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 – 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%/năm). Mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, bình quân giai đoạn 2016 – 2020 đạt 45,7%, vượt mục tiêu đặt ra (30 – 35%)(11).
Đối với quốc gia có thu nhập trung bình như Việt Nam, việc tham gia vào xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) có ý nghĩa to lớn, đặc biệt là trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu đã và đang có xu hướng chuyển sang mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu. Do đó, ngày 11/01/2021, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 36/QĐ-TTg về kế hoạch tổng thể nâng cao năng suất dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021 – 2030, xác định mục tiêu cụ thể cũng như đề xuất những giải pháp để nâng cao năng suất dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trên cơ sở đó cải thiện Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam.
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam trong bảng xếp hạng đã có những bước tiến vượt bậc. Năm 2020, Việt Nam tiếp tục cải thiện vị trí xếp hạng, vươn lên xếp thứ 42/131 quốc gia/nền kinh tế được xếp hạng trong bảng phân loại Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, tăng thêm 03 bậc so với năm 2018. Kết quả này đã giúp Việt Nam trở thành quốc gia có Chỉ số đổi mới sáng tạo đứng thứ 03 trong khu vực ASEAN, chỉ sau Singapore và Malaysia. So với năm 2019, Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2020 có nhiều kết quả tích cực, đặc biệt chỉ số thành phần về đầu ra đổi mới sáng tạo (sản phẩm tri thức và công nghệ) tăng 09 bậc. Tuy nhiên, chỉ số đầu vào như thể chế, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực và nghiên cứu lại có xu hướng tụt hạng hoặc cải thiện rất chậm (xem Bảng 1).
Ngoài ra, năm 2019, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đánh giá về Chỉ số năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0) đối với 141 nền kinh tế (chiếm 99% GDP thế giới) qua 103 chỉ số được chia thành 12 trụ cột. Trong đó, năng lực đổi mới sáng tạo nằm trong nhóm chỉ số đánh giá hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của một quốc gia, trụ cột này tăng 06 bậc (từ thứ hạng 82 lên thứ hạng 76); mức độ tinh thông của người mua tăng 46 bậc; mức độ phát triển các cụm ngành tăng 33 bậc; hợp tác đa bên tăng 17 bậc; tính đa dạng của lực lượng lao động tăng 16 bậc; chi phí nghiên cứu và phát triển tăng 06 bậc (xem Bảng 2).
Với một số dữ liệu nêu trên, có thể thấy, quá trình đổi mới sáng tạo ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả, cụ thể:
Thứ nhất, với việc ban hành Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020, sử dụng bộ Chỉ số GII như một công cụ đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động đổi mới sáng tạo quốc gia là minh chứng cho thấy, Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo đối với sự phát triển đất nước. Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó xác định rõ vai trò quan trọng của các trung tâm đổi mới sáng tạo. Trong bảng xếp hạng Chỉ số GII năm 2020, Việt Nam vượt qua thách thức, duy trì được thứ hạng 42, tiệm cận nhóm 40 quốc gia dẫn đầu như đã đạt được năm 2019 là một kết quả rất tích cực.
Thứ hai, một số chỉ số đầu vào và đầu ra của đổi mới sáng tạo đã có sự gia tăng vượt bậc. Kết quả này cho thấy, thời gian qua, một số tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam đã dành sự quan tâm cho đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng cho thực hiện chuyển đổi số trong giai đoạn tiếp theo. Năm 2019, nguồn kinh phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chủ yếu đến từ nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, chiếm 88,5% (trong đó doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 53,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 32%)(12). Với kết quả này chứng tỏ tiềm lực khoa học, công nghệ quốc gia được tăng cường. Thị trường khoa học, công nghệ phát triển mạnh hơn; đã có 15 sàn giao dịch, 50 vườn ươm công nghệ(13).
Thứ ba, số lượng bằng sáng chế, đơn đăng ký sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế của Việt Nam vẫn tiếp tục tăng. Trong bối cảnh đầy khó khăn của dịch bệnh COVID-19 bùng phát từ cuối năm 2019, số lượng bằng sáng chế, đơn đăng ký sở hữu trí tuệ khác, bằng phát minh sáng chế của Việt Nam vẫn tiếp tục tăng và số được công nhận cũng tăng hơn so với năm 2019. Cụ thể, chỉ số công bố bài báo khoa học và kỹ thuật năm 2020 đã tăng 13 bậc so với năm 2019, từ vị trí 74 lên 61(14). Hệ thống bảo hộ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ được hoàn thiện, phù hợp với cam kết quốc tế, phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo. Hệ thống tiêu chuẩn quốc gia ngày càng được tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế. Cơ sở dữ liệu về công nghệ và chuyên gia bước đầu hình thành. Các khu công nghệ cao đã góp phần thu hút các dự án ứng dụng công nghệ cao của các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới(15).
Thứ tư, kết cấu hạ tầng cho phát triển kinh tế góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Năm 2020, thứ hạng của chỉ số này tăng 09 bậc so với năm 2019, đáng kể nhất là nhóm chỉ số về hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) – tăng 06 bậc, với tiến bộ rõ rệt về tiếp cận ICT (tăng 04 bậc, từ vị trí 90 lên 86) và sử dụng ICT (tăng 27 bậc, từ vị trí 92 lên 65)(16). Sự phát triển công nghệ và hạ tầng ICT sẽ góp phần giúp Việt Nam đẩy mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo, thực hiện thành công chương trình chuyển đổi số quốc gia.
Thứ năm, khả năng tiếp cận với tri thức khoa học, công nghệ của thế giới được cải thiện và bắt đầu tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cụ thể, chỉ số hợp tác viện, trường – doanh nghiệp (tăng 10 bậc, từ vị trí 75 lên 65) và chỉ số quy mô phát triển của cụm công nghiệp (tăng 32 bậc, từ vị trí 74 lên 42). Năng lực hấp thụ tri thức tăng 13 bậc so với năm 2019, xếp hạng 10(17). Hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành tiếp tục được quan tâm đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động. Hạ tầng nghiên cứu trong một số lĩnh vực trọng điểm như công nghệ sinh học, hóa dầu, vật liệu, tự động hóa, nano, công nghệ tính toán, y học… được tăng cường(18). Do đó, Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học, công nghệ ở Việt Nam vẫn còn thách thức:
Một là, đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học, công nghệ chưa thực sự là động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội(19). Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm. Mô hình tăng trưởng chưa dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo(20). Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào GDP Việt Nam tuy ngày càng được cải thiện (45,21% năm 2020), song còn thấp, mô hình tăng trưởng vẫn dựa vào vốn và lao động.
Hai là, các chủ doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về đổi mới sáng tạo, đặc biệt là ở các doanh nghiệp trong ngành chế biến, chế tạo. Theo kết quả khảo sát 7.641 doanh nghiệp, có 4.709 doanh nghiệp đổi mới sáng tạo (chiếm 61,63%), 2.841 doanh nghiệp không có hoạt động đổi mới sáng tạo (chiếm 37,18%) và có 91 doanh nghiệp (chiếm 1,19%) không hiểu rõ về đổi mới sáng tạo và không xác định được đã thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo(21). Bên cạnh đó, số lượng các doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo còn ít.
Ba là, tổng đầu tư xã hội, nhất là đầu tư từ doanh nghiệp cho khoa học, công nghệ còn thấp. Tỷ trọng chi ngân sách đầu tư cho khoa học, công nghệ trong tổng chi ngân sách còn thấp (năm 2010 chiếm 0,64% ngân sách, năm 2015 và năm 2019 cùng chiếm 0,74%)(22).
Bốn là, thị trường khoa học, công nghệ phát triển còn chậm, các tổ chức trung gian có uy tín, kinh nghiệm trong hoạt động kết nối cung – cầu còn ít; chưa khuyến khích, nuôi dưỡng và phát triển được nhiều các phát minh, sáng chế trở thành sản phẩm cuối cùng và thương mại hóa. Thêm vào đó, số tổ chức khoa học, công nghệ còn ít, việc chuyển đổi sang kinh tế thị trường trong lĩnh vực khoa học, công nghệ còn chậm, còn lúng túng, tính thị trường chưa cao, chưa đầy đủ, hiệu quả còn thấp(23).
3. Giải pháp đẩy mạnh đổi mới sáng tạo nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước
Để hoạt động đổi mới sáng tạo tạo ra những bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh nhằm phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nhanh và bền vững, cần thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, tạo lập môi trường thể chế cho các thử nghiệm mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng số (regulatory sandbox). Bởi, những đột phá liên tục về công nghệ số của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm xuất hiện nhanh chóng những ngành, nghề mới nhưng chưa có thể chế quản lý. Trong bối cảnh đó, việc chấp nhận tạm thời thông qua thử nghiệm và đi đến hoàn thiện pháp lý phục vụ mục tiêu quản trị phát triển là yêu cầu cấp thiết nhằm thích ứng, tận dụng kịp thời các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp khởi nghiệp phải đặt ở vị trí trung tâm trong hoạt động đổi mới sáng tạo. Cần xây dựng chiến lược đổi mới sáng tạo đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bởi, đây là những doanh nghiệp trong nước và chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp(24), do vậy, cần khuyến khích đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, xây dựng các quỹ để phát triển khoa học, công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Để tăng các quỹ này, có thể kêu gọi nguồn vốn từ các thể chế, doanh nghiệp, vốn đầu tư mạo hiểm, các khoản đầu tư từ nhà đầu tư thiên thần, các chương trình tăng tốc, các nhóm đầu tư…
Thứ tư, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tập trung phát triển các ngành ưu tiên để cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo, như công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử – viễn thông; an toàn, an ninh mạng; công nghiệp chế tạo thông minh; tài chính – ngân hàng; thương mại điện tử; nông nghiệp số; du lịch số; công nghiệp văn hóa số; y tế; giáo dục và đào tạo(25).
Thứ năm, phát triển thị trường khoa học, công nghệ gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học, công nghệ. Kết nối có hiệu quả các sàn giao dịch công nghệ quốc gia với các trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ ở các địa phương. Phát triển mạnh mạng lưới các tổ chức dịch vụ trung gian môi giới, đánh giá chuyển giao công nghệ. Đồng thời, các doanh nghiệp cần phải tăng cường đầu tư cho công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, liên kết với các trung tâm nghiên cứu như các trường đại học, các viện nghiên cứu có ý nghĩa quyết định trong đổi mới sáng tạo.
Thứ sáu, tăng cường liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước, mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam(26) nhằm thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài. Việt Nam cần xây dựng cơ sở dữ liệu mở để quảng bá hình ảnh đất nước, các chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao để người lao động, các nhà đầu tư có thể tiếp cận những thông tin cần thiết, để lựa chọn nơi làm việc, nơi đầu tư.
Thứ bảy, cần có lộ trình hoàn thiện chương trình giáo dục trung học phổ thông tổng thể phù hợp với giáo dục STEM, ưu tiên các môn học khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học để đưa vào triển khai trong giai đoạn 2021 – 2025. Đối với các cơ sở giáo dục đại học, sớm đưa các môn học lập trình, phát triển ứng dụng, in 3D và robot vào chương trình giảng dạy bắt buộc của sinh viên các trường đại học khối kỹ thuật. Đồng thời, tập trung cho giới trẻ các kỹ năng sáng tạo và phát triển kinh doanh, như làm việc nhóm, phát biểu, thuyết trình và truyền cảm hứng./.

———————————————-

(1) Richard R. Nelson (1993), National Innovation System: A comparative Analysis. Oxford University Press
(2) Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia (2020), Đổi mới sáng tạo và những xu hướng phát triển mới, Tổng luận, tr.6
( 3) và (5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.208 và 213
(4), (6), (7), (11), (15), (18), (19), (20), (25) và (26) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.82, 8, 8, 18, 37, 36, 70, 211, 104-105 và 134
(8) Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới, tháng 11/2020
(9) Phạm Thị Thanh Bình, Những nhân tố đóng góp vào điểm sáng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2020, Tạp chí Ngân hàng, số 3+4/2021
(10) Tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 13,4% năm 2016 lên ước đạt 16,58% năm 2020. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị sản phẩm công nghệ cao tăng từ 52% năm 2016 lên ước hơn 78% năm 2020
(12) Đỗ Văn Huân, Đinh Thị Thủy (01/2022), Đầu tư hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chế biến, chế tạo, Tạp chí Con số sự kiện
(13) Bộ Khoa học và công nghệ, Chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/19753/chuyen-doi-mo-hinh-tang-truong-dua-tren-nen-tang-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-.aspx
(14), (16) và (17) WIPO (2020), Global Innovation Index 2020, Who Will Finance Innovation?, https://www.wipo.int/edocs/pubdocs/en/wipo_pub_gii_2020.pdf
(21) Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia (2019), Kết quả điều tra từ dự án First- Nasati, Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ
(22) và (23) Kinh tế 2020 – 2021: Việt Nam và Thế giới, Tạp chí Kinh tế Việt Nam, tr.33 và 32
(24) Phan Thị Cẩm Lai, Giải pháp phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới tác động của đại dịch Covid- 19, https://www.quanlynhanuoc.vn ngày 24/02/2022

(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 09/2022)