TS. NGUYỄN THỊ HOA PHƯỢNG – Học viện Chính trị khu vực II,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Đầu năm 2022, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã công bố tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Trong tác phẩm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc lại kết luận sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh:“Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”(1). Bài viết tập trung tìm hiểu rõ hơn định hướng đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội qua các giai đoạn cách mạng của Đảng, từ đó khẳng định đây là định hướng đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Từ khóa: chủ nghĩa xã hội; định hướng; Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Từ cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917), chủ nghĩa xã hội trở thành một phong trào cách mạng rộng lớn, diễn ra rộng khắp trên thế giới. Bản chất của chủ nghĩa xã hội là một xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện cả về vật chất và tinh thần, giàu có, ấm no, hạnh phúc; về phương diện chính trị là quyền lực thuộc về nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; về phương diện xã hội là xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; về phương diện văn hóa là giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc và tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ, phù hợp của nhân loại; về phương diện quốc tế là quan hệ hợp tác, hữu nghị, đấu tranh vì hòa bình, công bằng, tiến bộ xã hội, cùng chia sẻ với cộng đồng quốc tế các thách thức mang tính toàn cầu. Chính vì những mục tiêu tốt đẹp đó mà chủ nghĩa xã hội đã trở thành phương hướng tiến lên của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Trong quá trình đó, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa luôn gắn bó chặt chẽ, truyền thêm sức mạnh cho nhau để đạt những thành quả to lớn trong lịch sử và hiện tại.
Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh khảo nghiệm thực tiễn tại nhiều nước tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu về cách mạng tư sản, nhưng Người không lựa chọn con đường cách mạng tư sản vì cho rằng, con đường đó không mang lại quyền lợi thực sự cho quần chúng lao động và không mở đường cho độc lập của các dân tộc thuộc địa. Khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở lý luận cách mạng đó con đường cứu nước đúng đắn: gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người, tức là phải đi tới chủ nghĩa xã hội. Từ nghiên cứu lý luận và khảo nghiệm thực tiễn của các nước, Nguyễn Ái Quốc khẳng định chủ nghĩa xã hội hoàn toàn có thể thực hiện được ở châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng, trong đó có Việt Nam. Con đường cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua đã chứng minh tính đúng đắn của nhận định trên.
2. Định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc (1930 – 1975)
Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 02/1930) nêu rõ mục tiêu đấu tranh của cách mạng và dân tộc Việt Nam là làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập để đi tới xã hội cộng sản. Bởi vậy, ngay khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam lập tức tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, nắm vững ngọn cờ lãnh đạo cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam liên tiếp giành thắng lợi trong đấu tranh giải phóng và xây dựng đất nước. Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945), mục tiêu độc lập dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm trước hết, đấu tranh giành độc lập dân tộc là nội dung chủ đạo, được tiến hành theo lập trường của giai cấp vô sản; mục tiêu chủ nghĩa xã hội chưa đặt ra trực tiếp mà là phương hướng tiến lên và để thực hiện mục tiêu đó, trước hết phải tiến hành đấu tranh giành độc lập dân tộc. Chánh cương vắn tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng xác định rõ con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(2).
Sau khi giành được chính quyền cách mạng trong cả nước, trong hoàn cảnh thù trong, giặc ngoài, mâu thuẫn dân tộc tồn tại gay gắt, Đảng xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là bảo vệ độc lập dân tộc, với tinh thần “Tổ quốc trên hết”, “Dân tộc trên hết”. Đảng đã lãnh đạo nhân dân nhanh chóng xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, chống “giặc đói”, “giặc dốt”, không ngừng nâng cao nội lực cách mạng, là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chế độ, bảo vệ nền độc lập non trẻ, chuẩn bị kháng chiến.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng đề ra chủ trương vừa kháng chiến, vừa xây dựng chế độ dân chủ mới – chế độ nhân dân làm chủ. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (tháng 02/1951) nêu rõ: “Về mục đích trước mắt, Đảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn; tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(3).
Ngay trong tiến trình kháng chiến, nhiều tiền đề của chủ nghĩa xã hội được tạo dựng. Công cuộc xây dựng chính quyền mới, chính quyền của dân, do dân, vì dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Những yếu tố cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được xác lập. Mọi công dân được tự do phát triển sản xuất – kinh doanh theo tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh là người giàu thì giàu thêm, người khá trở nên giàu, người nghèo trở nên khá. Đảng lãnh đạo xây dựng một số xí nghiệp, doanh nghiệp quốc doanh… tuy còn nhỏ, song thành phần kinh tế này đã góp phần bình ổn vật giá. Lĩnh vực văn hóa đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xóa nạn mù chữ trở thành phong trào quần chúng rộng lớn và có ý nghĩa lâu dài. Trong kháng chiến, nhân dân chịu đựng mọi gian khổ nhưng vẫn sống lạc quan, tin tưởng ở Đảng, ở kháng chiến nhất định thắng lợi, đời sống tinh thần phát triển tốt đẹp. Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính đã thực sự đi vào cuộc sống và trở thành nguyên nhân của mọi thắng lợi. Khối đại đoàn kết toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ngày càng rộng lớn và vững chắc, vừa dựa trên nền tảng phát huy lòng yêu nước của toàn dân, vừa dựa trên những thành tựu ban đầu của chế độ mới. Chế độ mới không chỉ là lực lượng tinh thần, mà còn là lực lượng vật chất to lớn, bảo đảm kháng chiến lâu dài, càng đánh càng thắng, cuối cùng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Chế độ dân chủ mới là thành quả quan trọng của cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, là động lực đưa cuộc kháng chiến đến thành công, đồng thời là tiền đề trực tiếp cho chủ nghĩa xã hội ở thời kỳ tiếp theo.
Trong thời kỳ tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng (1954 – 1975), Đảng xác định cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất đất nước; là hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam. Khi miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng khẳng định đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ cách mạng: tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Tình huống đó chưa có tiền lệ trong lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam.
Ở miền Bắc, chủ nghĩa xã hội không còn là định hướng mà đã trở thành mục tiêu trực tiếp. Do nhu cầu cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đưa miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng đã chỉ đạo tiếp tục tiến hành cải cách ruộng đất và giảm tô (cải cách ruộng đất tuy đạt được những thành tựu cơ bản, quan trọng nhưng đã phạm phải không ít những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng; từ năm 1956, việc sửa sai đã được tiến hành nhằm phát huy thắng lợi đạt được, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo tiền đề cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước).
Vì nhân dân cả nước đều có nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, nên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là chủ nghĩa xã hội thời chiến mang những nét đặc trưng riêng biệt. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng không chỉ vận dụng quy luật của chủ nghĩa xã hội, mà còn cả quy luật của chiến tranh cách mạng. Động lực phát triển kinh tế không chỉ là sự kết hợp các lợi ích, coi lợi ích Tổ quốc là tối cao, với lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân, mà còn từ khát vọng xây dựng một xã hội bình đẳng, không có áp bức, bóc lột. Những thành tựu kinh tế của miền Bắc góp phần bảo đảm yêu cầu chi viện cao nhất cho tiền tuyến lớn miền Nam, đồng thời bảo đảm đáp ứng nhu cầu tối thiểu và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã tổ chức quản lý nền kinh tế bằng kế hoạch với chế độ tập trung cao độ và bao cấp ở mức độ thích hợp, để trên cơ sở sức người, sức của có hạn, đáp ứng yêu cầu của chiến đấu, sản xuất, đời sống và làm nghĩa vụ quốc tế. Tinh thần “Tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Xây dựng chủ nghĩa xã hội lúc này cũng là để đánh thắng Mỹ” đã khơi dậy lòng yêu nước, động viên toàn dân vừa sản xuất, vừa chiến đấu.
Hơn 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Từ xuất phát điểm rất thấp, phải san sẻ cả nguồn lực và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng, song miền Bắc đã thể hiện rất rõ tính ưu việt của chế độ mới. Đồng thời, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Chủ nghĩa xã hội được xây dựng ở miền Bắc đã tạo ra sức mạnh tinh thần cổ vũ mạnh mẽ nhân dân cả nước và sức mạnh vật chất to lớn phục vụ các yêu cầu của cuộc chiến tranh giải phóng. Nhờ thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã thể hiện được vai trò quyết định đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Những thành tựu của miền Bắc còn tạo dựng tiền đề quan trọng cho thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội sau này.
Sức mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là kết quả của quá trình phát huy cao độ mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy sức mạnh của chế độ mới được khơi dậy trên nền tảng của tinh thần dân tộc và chủ nghĩa yêu nước. Nhân dân hai miền Nam – Bắc cùng chung sức, phối hợp đánh thắng đế quốc Mỹ trên cả hai miền đất nước. Miền Nam đã thể hiện đầy đủ, xuất sắc vai trò quyết định trực tiếp đánh đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam, đánh đổ chế độ thân Mỹ đồng thời góp phần bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Dựa vào sức mạnh của chế độ mới được thiết lập ở vùng giải phóng miền Nam và chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhân dân Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để đi đến thắng lợi cuối cùng – hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
3. Định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội từ năm 1975 đến nay
Trong 10 năm đầu sau khi đất nước thống nhất (1975 – 1985), do một số yếu tố khách quan và đặc biệt là chủ quan, duy ý chí, Đảng đã phạm những khuyết điểm nghiêm trọng trong lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nền kinh tế – xã hội chẳng những không đạt được các mục tiêu mà còn ngày càng rơi vào khó khăn, khủng hoảng. Những yếu kém về kinh tế – xã hội, những hạn chế về lý luận, khuyết điểm về lãnh đạo, tổ chức thực hiện,… còn làm ảnh hưởng đến các nguồn lực củng cố quốc phòng, an ninh và vị thế đất nước trên trường quốc tế. Do đó, đổi mới trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, xuất phát từ đòi hỏi của Đảng và quần chúng, nhằm tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp đặc điểm nước ta.
Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Tuy nhiên, kết quả đổi mới của nhiệm kỳ này chưa tạo sự chuyển biến kinh tế – xã hội đáng kể. Khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô khủng hoảng, sụp đổ, không ít người dao động, hoài nghi giá trị chủ nghĩa xã hội, muốn đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Trước tình hình đó, Đảng đã kiên quyết bác bỏ quan điểm sai lầm, dao động. Tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (tháng 3/1989), Đảng đã kịp thời đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới: đổi mới không phải xa rời con đường xã hội chủ nghĩa mà thực hiện chủ nghĩa xã hội tốt hơn bằng những nhận thức mới, hình thức, phương pháp, bước đi thích hợp. Đồng thời, Đảng tiếp tục khẳng định: đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của nước ta, xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân Việt Nam; là sự lựa chọn sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhân dân Việt Nam đã thể hiện sự đồng tình ủng hộ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bằng việc nỗ lực phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Lựa chọn và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời đòi hỏi phải đưa ra được các giải pháp, bước đi, cách làm thực sự khoa học nhằm thực hiện bằng được mục tiêu đó.
Đối với Việt Nam, đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà nhằm làm cho mục tiêu đó đạt được bằng những bước đi, phương thức và biện pháp phù hợp. Với ý nghĩa đó, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã nêu: “Chủ nghĩa xã hội chúng ta lựa chọn cũng không phải là chủ nghĩa xã hội bị hiểu sai và làm sai như trước đây, mà là chủ nghĩa xã hội đích thực, chủ nghĩa xã hội đúng đắn”(4).
Thực hiện đường lối đổi mới ở Việt Nam cũng là thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Qua thực tiễn, Đảng khẳng định không có mô hình chủ nghĩa xã hội chung cho các quốc gia – dân tộc, đối với Việt Nam, quá trình lãnh đạo và thực hiện đường lối đổi mới càng làm sáng tỏ hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội về mục tiêu, mô hình mà đặc biệt là các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Từ Đại hội lần thứ VII của Đảng (năm 1991), Cương lĩnh xác định 06 đặc trưng, đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ 08 đặc trưng: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(5).
Công cuộc đổi mới ở nước ta trong hơn 03 thập kỷ qua, nhờ sự nỗ lực, thống nhất cao độ của toàn Đảng, toàn dân đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu đó chẳng những hiện thực hóa từng bước giá trị của chủ nghĩa xã hội, mà còn nâng cao vị thế đất nước, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, củng cố nền độc lập dân tộc.
Ngày nay, Đảng không chỉ kiên định mục tiêu phát triển của đất nước, mà còn khẳng định xu hướng chủ nghĩa xã hội trong thời đại hiện nay. Có thể nói, mặc dù những năm cuối thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào thoái trào và gặp nhiều thách thức mới. Sự đổ vỡ thể chế xã hội chủ nghĩa và đảng cộng sản mất vai trò cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, kết cục là đổ vỡ cả hệ thống, chỉ còn một số ít nước lựa chọn đi lên xã hội chủ nghĩa. Song, “những thành tựu có quy mô và tầm vóc lịch sử thế giới của chủ nghĩa xã hội là không thể phủ nhận, nó đã từng là giá trị thể hiện bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội, mãi mãi còn in dấu trong lương tâm, ký ức nhân loại”(6); những giá trị của chủ nghĩa xã hội vẫn đang hiện diện và ngày càng khẳng định rõ hơn trong thế giới đương đại; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục khẳng định giá trị bền vững, sức sống mạnh mẽ, là xu thế phát triển của nhân loại. Tuy chủ nghĩa xã hội chịu những tổn thất nặng nề, nhưng giá trị, sức sống và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa xã hội vẫn được khẳng định: “Trải qua những biến động lớn của lịch sử, chủ nghĩa xã hội vẫn giữ nguyên những giá trị đích thực như một học thuyết khoa học và là giải pháp duy nhất cho tương lai của nhân loại”(7).
Một chế độ xã hội ra đời khi chính xã hội trước nó tạo ra những tiền đề và điều kiện đầy đủ nhất. Chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa trong quá trình phát triển đang tạo ra những tiền đề vững chắc hơn cả về vật chất – kỹ thuật, về xã hội, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội, đồng thời những mâu thuẫn cố hữu, nan giải của nó vẫn đang phát triển mà không thể tự giải quyết. Sự phát triển của nhân loại đang tiến ngày càng gần hơn đến những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội.
Dưới tác động và ảnh hưởng của toàn cầu hóa, chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ nghĩa xã hội cải cách và đổi mới hiện nay lại có cơ hội để trưởng thành, để đạt tới một chất lượng mới, thực sự khoa học – cách mạng và nhân văn, thực sự là phương án lựa chọn đáng tin cậy của các dân tộc trong hành trình tới độc lập, tự do và làm chủ vận mệnh, cuộc sống của mình.
Trong khi chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào và tình hình trong nước có nhiều khó khăn, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, lợi dụng các vấn đề về dân tộc, tôn giáo, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam. Bên cạnh đó, chủ quyền đất nước vẫn luôn có nguy cơ bị xâm phạm.
Tuy vậy, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam vẫn kiên định định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội vì chủ nghĩa xã hội vẫn là xu thế của thời đại, Đảng khẳng định: “một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển”(8). Dù còn phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức, nhưng nhất định chủ nghĩa xã hội sẽ có bước tiến mới “theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”(9). Đồng thời, Đảng luôn khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”(10).
4. Kết luận
Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã nắm vững ngọn cờ cách mạng, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, là đảng duy nhất cầm quyền từ khi thành lập nước đến nay với rất nhiều chiến thắng, thành quả to lớn, được nhân dân và quốc tế ghi nhận. Trong bối cảnh hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền, hệ thống chính trị ngày càng được củng cố vững chắc, chính trị – xã hội ổn định là thuận lợi to lớn cho sự thống nhất ý chí, đoàn kết về lực lượng cho sự nghiệp củng cố, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta đã khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới… Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(11). Đó chính là thành quả của quá trình Đảng luôn kiên định, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển chung của thế giới./.
———————————————
(1) Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.22
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.2-3
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.37
(4) PGS, TS. Nguyễn Phú Trọng (Chủ biên), Về định hướng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.21
(5), (8), (9) và (10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70, 68, 69 và 70
(6) Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.204
(7) Hội nghị Quốc tế ngày 25/10/1997: Chủ nghĩa xã hội hướng tới thế kỷ XXI, Báo Nhân dân, tr.8
(11) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.103-104
Tạp chí Khoa học Chính trị Số 07/2022







