PGS, TS. NGUYỄN THẾ TƯ(*)

TS. PHẠM VĂN GIANG(**)

(*) và (**) Học viện Chính trị khu vực III, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Trên nền tảng tư tưởng đó, Đảng đề ra Cương lĩnh, đường lối chính trị lãnh đạo cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước luôn tìm và làm mọi cách bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực hiện nhiệm vụ này trong thời gian qua đã đạt được những kết quả như sau:
Thứ nhất, nhận diện và kịp thời đề ra đường lối, chính sách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, Đảng đã phân tích, đánh giá kịp thời, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp để lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội đấu tranh phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này được thể hiện trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, thông báo của Đảng, như: Nghị quyết số 01-NQ/TW ngày 28/3/1989 của Bộ Chính trị Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay; Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/02/1995 của Bộ Chính trị Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 25/11/1996 của Bộ Chính trị về Chỉ đạo cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” về tư tưởng chính trị; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 04/01/2002 của Ban Bí thư Về tăng cường cuộc đấu tranh chống các luận điệu sai trái và các hoạt động tán phát tài liệu chống Việt Nam; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 17/4/2009 của Ban Bí thư Về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá; Thông báo số 21-TB/TW ngày 25/4/2011 của Ban Bí thư Về tăng cường công tác nghiên cứu, đấu tranh chống thông tin, quan điểm sai trái, thù địch; Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới; và gần đây nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Trên cơ sở đó, Nhà nước đã kịp thời xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh thể chế, cơ chế, chính sách đáp ứng ngày càng tốt hơn về hành lang pháp lý, điều kiện vật chất, tinh thần bảo đảm hiệu quả trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Cấp ủy đảng trực thuộc và chính quyền các cấp nghiên cứu, triển khai quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đơn vị. Nhờ đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân chủ động đấu tranh phản bác, làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch.
Thứ hai, tổ chức, phân công, phối hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiệu quả.
Đảng, Nhà nước đã phân công rõ trách nhiệm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân chủ trì, phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ tùy theo từng lĩnh vực cụ thể. Sự chỉ đạo, hướng dẫn theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương và sự phối hợp có tính chất chuyên biệt giữa Ban Chỉ đạo 35 Trung ương với Ban Chỉ đạo 35 các bộ, ngành, địa phương; phối hợp giữa các bộ, ngành. Nổi bật như Bộ Công an với Bộ Quốc phòng; lực lượng Công an với ban tuyên giáo các cấp; Bộ Quốc phòng với Hội đồng Lý luận Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Bộ Quốc phòng với Tạp chí Cộng sản và Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương; Tạp chí Cộng sản và Hội đồng Lý luận Trung ương, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và báo Nhân dân,… Nội dung phối hợp được thể hiện trong các quy chế phối hợp, chương trình, đề án theo từng giai đoạn và được thực hiện thống nhất, tương ứng, đồng bộ từ Trung ương đến cấp quận, huyện. Ngoài ra, một số cơ quan, các đơn vị nghiệp vụ, trực thuộc hoặc có chức năng, nhiệm vụ tương đồng trong đấu tranh cũng được tổ chức phối hợp chặt chẽ. Điển hình như các cục của Bộ Công an như Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Cục Truyền thông Công an nhân dân; “Lực lượng 47” của Bộ Quốc phòng.
Với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân, Đảng đề ra chủ trương, biện pháp đấu tranh ngăn chặn, phản bác đúng đắn và hiệu quả, phát huy cao nhất vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong phòng, chống làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.
2. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vẫn còn một số hạn chế, khó khăn:
Một là, một số quy định của pháp luật về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn hạn chế, bất cập hoặc có quy định nhưng còn chung chung, chưa toàn diện, cụ thể. Chẳng hạn, tại Điều 117 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trong đó, khoản 2 dùng thuật ngữ “phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” là rất khó để có sự phân định tường minh trong thực tiễn xác định tính chất, mức độ các hành vi vi phạm, trong khi đó chưa có hướng dẫn cụ thể để nhận diện các loại hành vi này. Khoản 3 quy định: “Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm”. Quy định này cho thấy, nếu không quá khó khăn để chứng minh biểu hiện của hành vi chuẩn bị phạm tội của “làm”, “phát tán” hoặc “tuyên truyền” thông tin, tài liệu, vật phẩm thì trái lại, chứng minh giai đoạn chuẩn bị phạm tội “tàng trữ” các thông tin, tài liệu, vật phẩm đó là không dễ trên thực tế… Đối với xử lý vi phạm hành chính cũng tồn tại nhiều bất hợp lý, chưa có sự thống nhất trong quy định xử phạt giữa các văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn áp dụng Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2017 và 2020) và các văn bản hướng dẫn thực hiện bộc lộ những bất cập như: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhất là thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền; việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong việc phát hiện vi phạm hành chính để làm căn cứ ra quyết định xử phạt (phạt nguội) gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc do Luật chưa có quy định cụ thể. Điều này làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả của việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng.
Ngoài ra, đến nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể việc bảo vệ chủ thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là vấn đề rất nhạy cảm, phức tạp, nếu xử lý không cẩn trọng, sơ suất ở một công đoạn nào đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhiều khi lại trở thành “kẻ phạm tội” hoặc vô tình “tiếp tay” cho các thế lực thù địch.
Hai là, việc triển khai các nghị quyết, chỉ thị, thông báo, kết luận của Đảng, các cấp ủy đảng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch ở một số ngành, địa phương có lúc chưa nhạy bén, thiếu kịp thời, hiệu quả còn hạn chế. Không ít tổ chức đảng, cấp ủy đảng thiếu chủ động trong việc ra nghị quyết và triển khai thực hiện lãnh đạo thường xuyên cũng như khi có nhiệm vụ, tình huống đột xuất. Thực tiễn ở một số địa phương cho thấy, việc triển khai thực hiện các văn bản có liên quan đến công tác đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” còn mang tính hình thức. Công tác nắm bắt, xử lý thông tin, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, những “vấn đề nóng”, “điểm nóng” ở một số địa bàn còn chậm và hiệu quả chưa cao.
Ban Chỉ đạo 35 và nhóm chuyên gia ở một số địa phương, đơn vị hoạt động chưa hiệu quả, lúng túng, bị động trong triển khai thực hiện nhiệm vụ. Thành viên Ban Chỉ đạo 35 đa số là những người có chức vụ, kiêm nhiệm nên không có thời gian đầu tư cho việc nghiên cứu, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch. Còn tình trạng khoán trắng cho ban tuyên giáo và trưởng ban tuyên giáo hoặc các cơ quan nghiên cứu giảng dạy lý luận chính trị, mà chưa coi đó là nhiệm vụ và nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị.
Ba là, việc tổ chức, phối hợp các lực lượng thực hiện còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ. Đó là sự thiếu thống nhất, hợp tác giữa đội ngũ làm công tác nghiên cứu lý luận với đội ngũ làm công tác thực tiễn, đội ngũ tuyên truyền viên và báo cáo viên. Sự phối hợp trong đấu tranh chủ yếu diễn ra ở một số bộ, ban, ngành chủ chốt hoặc theo cơ chế, nhiệm vụ của ngành dọc như tuyên giáo, lực lượng vũ trang, Ban Chỉ đạo Trung ương và các địa phương song còn thiếu chặt chẽ và không đồng bộ.
Hiện nay, ngoài quan điểm chỉ đạo của Đảng về sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và một số văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan đến trách nhiệm của một số cơ quan chức năng, chưa có quy định nào có tính pháp lý cụ thể ràng buộc việc phối hợp, trao đổi, chia sẻ thông tin kinh nghiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân để tìm ra biện pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiệu quả. Vì vậy, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, cá nhân nhiều khi chưa thật chủ động, tùy thuộc vào người đứng đầu ở các cơ quan, đơn vị có quan tâm, thể hiện hết trách nhiệm, tâm huyết với công việc này hay không.
Bốn là, việc tổ chức đấu tranh trên không gian mạng chưa kịp thời và thật hiệu quả. Nhận thức, trách nhiệm và sự phối hợp của các bộ, ngành trong quản lý mạng xã hội còn nhiều hạn chế, thiếu sự chung tay tham gia của các lực lượng theo đúng chức năng, nhiệm vụ đã được pháp luật quy định.
Nguyên nhân của thực trạng đó là:
Một là, nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch chưa đầy đủ, toàn diện. “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thấy hết âm mưu của các thế lực thù địch, còn mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác”(1), vì vậy, thiếu quyết liệt trong hành động, làm cho công tác “đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao”(2). Trình độ dân trí, điều kiện vật chất của các tầng lớp nhân dân ở các vùng miền khác nhau nên nhận thức chưa thống nhất, đầy đủ về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đặc biệt là vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, các thế lực thù địch đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của nhân dân để thực hiện mưu đồ lôi kéo, kích động một bộ phân người dân chống phá đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Hai là, hệ thống cơ sở pháp lý đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn hạn chế. Thực tiễn luôn đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tuy nhiên, việc hoàn thiện, hệ thống hoá cơ sở pháp lý, cơ chế thực hiện nhiệm vụ chưa được thực hiện thường xuyên. Khả năng dự báo để đưa ra các quy định, biện pháp phù hợp với yêu cầu trong nhiều trường hợp chưa đáp ứng đầy đủ.
Ba là, chưa đảm bảo được đầy đủ các điều kiện vật chất và tinh thần trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đó là sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận. Trong đó tình trạng chung là đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận mặc dù đông về số lượng, nhưng chất lượng chưa cao, nhất là sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ đầu ngành, chuyên gia trình độ cao. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo, học tập, nghiên cứu đấu tranh chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, nhất là các trang thiết bị, công nghệ hiện đại. Việc đầu tư kinh phí cho công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chưa thỏa đáng. Chính sách đãi ngộ chưa động viên và phát huy được công sức, trí tuệ, tâm huyết của chủ thể, lực lượng tham gia đấu tranh. Việc cung cấp các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ làm công tác tư tưởng, lý luận còn hạn chế.
3. Để phát huy kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức cho chủ thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Một là, phải tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn về những nội dung cơ bản, giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống của xã hội.
Hai là, thống nhất trong nhận thức cho các chủ thể về bản chất, âm mưu, thủ đoạn, tác hại của các quan điểm sai trái, thù địch và trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Theo đó, cần thông tin đầy đủ về những chủ thể, âm mưu, nội dung, phương thức, thủ đoạn của các quan điểm sai trái, thù địch, để cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ bản chất của chúng, từ đó cảnh giác, chủ động trong phòng ngừa, đấu tranh.
Ba là, cần kịp thời nhận diện đúng, phân biệt được quan điểm “sai trái” với quan điểm “thù địch” phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Quan điểm “sai trái” có thể là kết quả của nhận thức chưa đầy đủ do những nguyên nhân chủ quan và khách quan nào đó (năng lực nhận thức hạn chế, thông tin không đầy đủ, bị kích động, dụ dỗ…) và không có chủ ý chống đối chế độ chính trị. Trong khi đó, quan điểm “thù địch” trước hết, là quan điểm sai trái, sau nữa, đó là tư tưởng hướng đến hành động có chủ đích xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh đó, cần phân biệt quan điểm “sai trái”, “thù địch” với quan điểm “khác”. Thực tế cho thấy, có những quan điểm “khác”, “trái” nhưng có thể không “sai”. Bởi vì trong nhận thức có những vấn đề liên quan đến đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân không tránh khỏi những ý kiến khác với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, cần tiếp thu, bảo lưu ý kiến phản biện, góp ý mang tính xây dựng nếu có cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng. Để phân biệt quan điểm “khác” với quan điểm “sai trái”, “thù địch” phải xem xét ở động cơ, mục đích, nội dung, phương thức, cách thức thể hiện, về nhân thân của họ.
Thứ hai, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Một là, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các điều luật trong các văn bản pháp luật về xử lý hình sự và xử lý vi phạm hành chính liên quan đến chế tài xử lý các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận theo hướng đảm bảo tính toàn diện, cụ thể, thống nhất, khả thi.
Hai là, bổ sung, hoàn thiện thể chế về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội theo Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế để hiện thực hóa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm tự do, dân chủ trong nghiên cứu, trao đổi, đối thoại lý luận chính trị.
Ba là, hoàn thiện thể chế, cơ chế bảo vệ chủ thể đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Bảo vệ những người tiếp cận các loại tài liệu, truy cập vào những trang mạng xã hội phản động để khai thác thông tin phục vụ nhiệm vụ đấu tranh. Bảo vệ chủ thể đấu tranh trong những trường hợp nhạy cảm, bị cộng đồng phê phán hoặc bị các thế lực thù địch lợi dụng, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội. Đây là điều kiện bảo đảm cho các chủ thể yên tâm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao(3).
Thứ ba, tăng cường phân công, phối hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Một là, phải tổ chức chặt chẽ, thống nhất về lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý đấu tranh kịp thời, có hiệu quả từ Trung ương xuống đến địa phương, cơ sở. Đồng thời, kiện toàn cơ chế phân công, phối hợp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Hai là, phát huy vai trò của cơ quan, lực lượng nòng cốt, chuyên trách. Đây là lực lượng trực tiếp chuyển tải những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và hiện thực hóa nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong từng giai đoạn. Các cơ quan, lực lượng chuyên trách giữ vai trò nòng cốt trong việc định hướng, dẫn dắt toàn xã hội tham gia thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận, đường lối chính trị của Đảng.
Ba là, xây dựng thế trận lòng dân, phát huy vai trò của các giai tầng trong xã hội. Những nỗ lực, cố gắng của Đảng và Nhà nước sẽ không hiệu quả nếu không có sự tham gia tích cực của nhân dân trong cuộc đấu tranh này. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”(4). Thế trận lòng dân là yếu tố cơ bản, chắc chắn nhất để bảo vệ Tổ quốc từ xa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Thứ tư, bảo đảm các điều kiện vật chất và tinh thần cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Với quan điểm gắn bó chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “xây” là chủ yếu, “chống” phải quyết liệt, kiên trì, hiệu quả. Theo đó, tạo lập các yếu tố, môi trường thuận lợi cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiệu quả sẽ vừa là điều kiện vừa là giải pháp xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Trong đó cần chú ý những nội dung sau:
Một là, xây dựng hệ thống các luận cứ khoa học về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, cần làm rõ những nội dung nào là giá trị trường tồn, vấn đề nào đã bị lịch sử vượt qua, vấn đề nào trước đây và hiện nay chúng ta nhận thức chưa đầy đủ, chưa đúng cần nhận thức lại, vấn đề nào cần bổ sung, phát triển. Đặc biệt, chú ý xây dựng vững chắc các luận cứ khoa học bảo vệ nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để các chủ thể sử dụng phản bác lại các quan điểm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng.
Hai là, bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động được sự tiếp sức, hỗ trợ của chủ nghĩa đế quốc về tài chính, khoa học – công nghệ, con người, phương thức, thủ đoạn chống phá của chúng được thay đổi tinh vi hơn. Do đó, cần đầu tư trang bị phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất hiện đại, đặc biệt về công nghệ thông tin cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và các cơ quan, lực lượng chuyên trách thực hiện nhiệm vụ đấu tranh.
Ba là, bảo đảm điều kiện tiếp cận thông tin, tài liệu phục vụ hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Hoạt động chống phá của các thế lực thù ngày càng tinh vi, phức tạp, trong khi đó các thông tin về quan điểm sai trái, thù địch, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng liên quan đến lĩnh vực này trong thời gian qua chưa được cung cấp đầy đủ, kịp thời đến các cán bộ, đảng viên, nhất là ở cấp cơ sở. Vì vậy, thời gian tới, cần có sự phổ biến kịp thời, đầy đủ hơn.
Cần có cơ chế cung cấp thông tin, tài liệu cho các lực lượng (đặc biệt là các lực lượng chuyên trách) tham gia đấu tranh. Cung cấp thông tin đầy đủ về đối tượng, mục đích, nội dung chống phá của các quan điểm sai trái, thù địch. Theo đó, Ban Chỉ đạo 35 các cấp, ngành cần nghiên cứu, phối hợp với các cơ quan khác của Đảng (Ban Tuyên giáo Trung ương) và Nhà nước (Bộ Thông tin và Truyền thông) tổ chức một “kênh” nội bộ nhằm cung cấp thông tin “gốc” (bài viết, băng hình, sách, báo, tạp chí…) cho các nhóm chuyên gia, nhà khoa học để thuận tiện cho việc nghiên cứu, đề ra giải pháp đấu tranh hiệu quả trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc, quy định về bảo mật của Đảng và Nhà nước.
Bốn là, cần có chế độ, chính sách thỏa đáng cho lực lượng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng. Có chế độ thù lao tương xứng, khen thưởng cho những công trình, chuyên đề, bài viết hay về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để thu hút những người có năng lực, tâm huyết tham gia nghiên cứu, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận./.

——————————————————–

(1) Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.34
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.91
(3) Xem thêm: Vũ Anh Tuấn (chủ nhiệm), Thể chế, cơ chế đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn học và nghệ thuật, Đề tài khoa học cấp Bộ trọng điểm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2020
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.19

Tạp chí Khoa học Chính trị Số 06/2022