PGS, TS. ĐỖ PHÚ HẢI(*)

(*) Trường Đại học Hà Nội

Tóm tắt: Sự thành công quản trị quốc gia và thực hiện thành công đường lối đối ngoại, xét cho cùng, do đội ngũ cán bộ quyết định. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, phải nâng tầm năng lực, tư duy, năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ, trong đó đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này là một giải pháp quan trọng. Bài viết chỉ ra những tiêu chuẩn năng lực cán bộ để làm việc tốt trong môi trường quốc tế, đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng, đề xuất giải pháp tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế.
Từ khóa: cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng; môi trường quốc tế; năng lực

1. Đặt vấn đề
Cán bộ trong hệ thống chính trị quyết định trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, hơn ai hết Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rất rõ vị trí, vai trò của cán bộ. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1). “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(2). “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”(3). Nâng cao chất lượng cán bộ trong giai đoạn hiện nay luôn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm thông qua việc thực hiện đào tạo, bồi dưỡng. Thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt được, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa thật hiệu quả dẫn đến năng lực làm việc của cán bộ, công chức không được cải thiện, từ đó sức ép về đào tạo, bồi dưỡng lại càng tăng lên. Nếu việc đào tạo, bồi dưỡng vẫn tiếp tục không đáp ứng được yêu cầu, khiến cho việc nâng cao hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức càng gặp trở ngại, khó khăn…
Đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng, cho đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 189 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, có quan hệ kinh tế với hơn 221 thị trường nước ngoài và là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế; ký kết nhiều Hiệp định thương mai tự do song phương, đa phương thế hệ mới như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA); Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)…; đồng thời, tham dự nhiều diễn đàn kinh tế, như diễn đàn kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), kinh tế Á – Âu, thị trường chung châu Mỹ(4). Việt Nam có thể vượt Singapore trở thành nền kinh tế mở nhất trong khối ASEAN vào năm 2025. Do đó, yêu cầu cấp bách đặt ra đối với đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
2. Yêu cầu về năng lực cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế và những hạn chế, khó khăn
– Yêu cầu về năng lực cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế
Chuẩn năng lực cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế phải kể đến năng lực ngoại ngữ, năng lực làm việc trong môi trường đa văn hóa quốc tế, hiểu biết về quốc tế, bao gồm: quan hệ quốc tế; chính sách đối ngoại của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới; xu thế thế giới về toàn cầu hóa vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Đồng thời, người cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế cần có phẩm chất đạo đức cách mạng, tư tưởng chính trị vững vàng và năng lực chuyên môn đầy đủ.
+ Phẩm chất đạo đức
Một là, “trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. “Nhân, trí, dũng, trung, hiếu, tín, nghĩa” là thang bậc đầu tiên của đạo đức con người. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phẩm chất đạo đức của cán bộ, chuẩn mực đạo đức cách mạng. Hai là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đảng cách mệnh, Đảng cầm quyền, cán bộ và đảng viên, nhất là những cán bộ giữ cương vị lãnh đạo, càng phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện, những phẩm chất đạo đức này. Ba là, yêu thương con người, luôn tin tưởng ở quần chúng và sống có tình, có nghĩa, có trước, có sau. Bốn là, có tinh thần quốc tế trong sáng, hướng vào mục tiêu hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội.
+ Tư tưởng chính trị
Trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng thể hiện trong Cương lĩnh chính trị, đặc biệt là các vấn đề cơ bản có tính chiến lược, như độc lập dân tộc, tự chủ, tự quyết, trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, ngoại giao tâm công, ngoại giao hòa bình, hữu nghị với các dân tộc khác, ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, ngoại giao nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước.
+ Năng lực chuyên môn
Năng lực chuyên môn bao gồm kiến thức, kỹ năng, năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm cần thiết cho từng vị trí công tác để thực hiện tốt được công việc. Năng lực chuyên môn cần thiết được xác định theo yêu cầu của vị trí việc làm bảo đảm để cán bộ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Kiến thức đó là hiểu biết, có khả năng vận dụng, có khả năng phân tích, có khả năng đánh giá phát kiến…
+ Kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa
Giỏi ngoại ngữ và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp liên văn hóa, hiểu biết và tôn trọng khác biệt về văn hóa quốc tế. Hiểu biết về sự khác biệt về cách truyền đạt, về phong cách và tư duy ngôn ngữ. Nếu như người phương Đông ưa lối nói hình ảnh, bóng gió, “vòng vo”, thì trái lại, người phương Tây với đặc trưng ngôn ngữ của họ, lại rất cụ thể và thẳng thắn.
Năng lực nhận thức được sự khác biệt về mặt tư duy và lối suy nghĩ giữa các thành viên thuộc các nền văn hóa khác nhau sẽ giúp tránh được khá nhiều tranh luận trong quá trình làm việc với người nước ngoài. Thực tế, mỗi nền văn hóa lớn trên thế giới đều định hình ra những quan niệm và lối sống hoàn toàn khác nhau, nên có sự khác biệt về suy nghĩ. Bởi vậy, việc thay đổi suy nghĩ của một người đến từ nền văn hóa khác rất khó. Vì vậy, hãy chấp nhận sự khác biệt này và cùng tìm ra hướng đi để có thể đạt được mục tiêu chung của tất cả mọi người.
– Những hạn chế, khó khăn
Thứ nhất, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế hiện nay
Mặc dù, công tác đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường, số lượng cán bộ, công chức qua các lớp, khóa đào tạo, bồi dưỡng khá lớn, nhưng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, về kiến thức làm việc trong môi trường quốc tế với kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ của cán bộ, công chức nói riêng còn yếu kém. Bằng cấp, chứng chỉ tăng, nhưng chất lượng chuyên môn của cán bộ, công chức có bằng cấp, chứng chỉ lại đang là vấn đề đáng lo ngại, nhất là làm việc trong môi trường quốc tế.
Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với yêu cầu phát triển năng lực làm việc trong môi trường quốc tế
Đào tạo, bồi dưỡng chưa tập trung phát triển cho cán bộ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế, chưa xác định được những kiến thức và kỹ năng trong năng lực của cán bộ, công chức cần để “lấp đầy”, đồng thời chưa xác định được những năng lực cốt lõi cần có để xây dựng cho họ. Hiện nay, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ yếu vẫn là đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ngạch, bậc quy hoạch của cán bộ, mà chưa chú trọng trang bị kiến thức và kỹ năng để cán bộ thực hiện tốt hơn công việc và nhiệm vụ được giao, nhất là làm việc trong môi trường quốc tế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở nước ta vẫn tồn tại tư duy đào tạo, bồi dưỡng đại trà. Việc phân nhóm cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế ứng với kiến thức, kỹ năng cần có chưa được chú ý đúng mức. Thậm chí, nội dung đào tạo, bồi dưỡng còn dàn trải làm giảm hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng. Hơn thế, hầu như chưa có việc đánh giá tác động của đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ dẫn đến chưa đánh giá đầy đủ hiệu quả của đào tạo, bồi dưỡng và điều chỉnh xây dựng chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng.
Thứ ba, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa khoa học
Như trên đã phân tích, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế chưa được đánh giá đầy đủ để làm cơ sở khoa học cho công tác đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ. Do đó, chương trình đào tạo, bồi dưỡng hạn chế về nội dung, “đào tạo, bồi dưỡng chỗ thừa chỗ thiếu”; chưa kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa kiến thức và kỹ năng; còn có sự trùng lặp nhiều nội dung giữa các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, phương pháp thuyết trình là chủ yếu, chưa áp dụng phương pháp giảng dạy cho cán bộ, công chức, viên chức, hoặc lấy người học làm trung tâm. Phương pháp học tập có sự tham gia, như thảo luận, làm việc nhóm, làm bài tập lớn nhỏ, chưa được áp dụng nhiều.
Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế chưa bảo đảm tính toàn diện
Các chương trình thiếu hụt những kiến thức và kỹ năng bảo đảm tiêu chí chuẩn cán bộ làm công tác trong môi trường quốc tế. Giỏi ngoại ngữ là yêu cầu đầu tiên, đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa còn thiếu hụt.
3. Giải pháp tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế
Một là, phân tầng, phân loại cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế
Nhóm cán bộ cấp chiến lược là phân tầng đặc biệt cần được đào tạo, bồi dưỡng thật sự chuyên sâu về làm việc trong môi trường quốc tế. Đảng ta luôn dành sự quan tâm, chú trọng đặc biệt đến đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt ra những yêu cầu mới cao hơn đối với đội ngũ cán bộ rường cột này của nước nhà. Để có được đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, cần đổi mới đồng bộ nhiều nội dung trong công tác cán bộ, trong đó có nhiệm vụ làm công tác quan hệ quốc tế.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy ban Chấp Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đề cập trực tiếp vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược với nhiều nội dung quan trọng và giải pháp “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ” là một trong tám nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, chủ yếu của toàn bộ công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Ngày 02/01/2020, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 214-QĐ/TW về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý thay thế Quy định số 90-QĐ/TW ngày 04/8/2017 của Bộ Chính trị về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý với nhiều điểm bổ sung, sửa đổi quan trọng. Tiếp tục tinh thần này, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng một lần nữa khẳng định sự chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, gắn với xây dựng người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, địa phương, đơn vị.
Nhóm cán bộ chuyên trách về quan hệ đối ngoại là phân loại đặc biệt, cần được đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực làm việc trong môi trường quốc tế.
Nhóm cán bộ, công chức, viên chức không chuyên về công tác đối ngoại, cần bổ sung chuyên đề liên quan đến đối ngoại vào các chương trình bồi dưỡng về quản lý nhà nước, chương trình bồi dưỡng chức danh lãnh đạo nhằm tăng cường kiến thức về chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Hai là, đánh giá sát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế
Đối với nhóm cán bộ cấp chiến lược, cần đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa, như giao tiếp liên văn hóa; kiến thức về chính sách đối ngoại của Việt Nam; hiểu biết về quá trình toàn cầu hóa vừa hợp tác, vừa đấu tranh.
Chính sách đối ngoại Việt Nam dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng truyền thống bang giao quý báu của dân tộc, dựa trên những đặc điểm chủ yếu và xu thế vận động của thế giới cùng với những kinh nghiệm từ thực tế công cuộc đổi mới của đất nước trong hơn 35 năm là cơ sở lý luận để hình thành chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới. Điều này góp phần xây dựng Việt Nam có thế đối ngoại cân bằng, ổn định, vững chắc, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ đất nước. Đặc biệt, thấm nhuần và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề cơ bản có tính chiến lược bất biến, như độc lập dân tộc, tự chủ, tự quyết, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, ngoại giao tâm công, ngoại giao hòa bình, hữu nghị với các dân tộc khác, ngoại giao “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, ngoại giao nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước, ngoại giao cây tre(5).
Đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ là nội dung bắt buộc. Bởi vì, giỏi ngoại ngữ và vận dụng thông minh ngoại ngữ cho đối ngoại hợp với văn hóa, tư duy của người nước ngoài bảo đảm cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược thực hiện tốt nhiệm trong môi trường quốc tế.
Đối với nhóm cán bộ chuyên trách về đối ngoại, cần bồi dưỡng chuyên sâu về đạo đức cách mạng, đặc biệt về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh (cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, yêu thương con người). Nhóm này cần đào tạo đặc biệt về tư tưởng chính trị chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhấn mạnh tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cùng ngoại giao cây tre thời nay. Bên cạnh đó, nhóm này cần có sự am hiểu về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Nhóm cán bộ, công chức, viên chức thì bổ sung kiến thức về chính sách đối ngoại vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng hiện có.
Ba là, đầu tư xứng đáng cho đào tạo, bồi dưỡng
Từ nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của các nhóm đặc biệt trên, cần tăng cường đầu tư xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng tiên tiến, áp dụng công nghệ thông tin trong học tập. Trong đó, bao gồm cả đầu tư xây dựng giáo trình, tài liệu tham khảo và thực hành. Đầu tư đào tạo lại đội ngũ giảng viên, nâng cao năng lực bắt kịp với nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng. Ưu tiên sử dụng các cơ sở hiện đại trong đào tạo, bồi dưỡng nhóm cán bộ này và tăng cường đầu tư trang thiết bị dạy và học.
Bốn là, phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm
Thay đổi phương pháp giảng dạy truyền thống từ giảng dạy thuyết trình sang giảng dạy có thảo luận nhóm, kết hợp thực hành bảo đảm hiểu biết, kỹ năng và vận dụng trong thực tiễn. Thay đổi từ thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng, mô đun học tập, lấy người học làm trung tâm trong suốt quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Phương pháp học tập tiên tiến gắn với công nghệ thông tin, kết hợp trực tuyến và trực tiếp (blended learning), thực hành nhóm, thực hành cá nhân, thực hành gắn với thực tiễn môi trường quốc tế.
Năm là, thay đổi phương thức đánh giá
Mỗi chương trình đào tạo bồi dưỡng cần thay đổi phương thức đánh giá học viên. Học viên được đánh giá từ chuyên cần tham dự đủ thời lượng >90%, đánh giá mức độ tham gia tích cực thảo luận chia sẻ, đánh giá mức độ tiếp thu, đánh giá mức độ vận dụng và sáng tạo, đánh giá mức độ làm việc nhóm và cá nhân…
Mỗi chương trình đào tạo bồi dưỡng cần đánh giá kết quả và tác động để điều chỉnh bổ sung, sửa đổi đối với chương trình cập nhật hằng năm.
4. Kết luận
Để hội nhập quốc tế và phát triển trong thời gian tới, chúng ta cần xây dựng được đội ngũ cán bộ có chất lượng, đó là đội ngũ cán bộ có đủ năng lực ngoại ngữ, năng lực làm việc trong môi trường đa văn hóa quốc tế (bao gồm quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại các quốc gia, xu thế thế giới về toàn cầu hóa vừa hợp tác, vừa đấu tranh). Bên cạnh đó, chú trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, tư tưởng chính trị đầy đủ cho đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế./.

———————————————-

(1) và (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.309 và 280
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Sđd, tr.356
(4) Đỗ Phú Hải, Tăng cường thực hiện chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 8/2022
(5) Nguyễn Phú Trọng, Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số 980, tháng 12/2021, tr.8

(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 09/2022)