TS. BÙI XUÂN THANH
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Phát triển bền vững không chỉ là tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường mà trước hết là phát triển con người, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và sự tham gia của mọi thành viên vào đời sống cộng đồng. Vận dụng quan điểm triết học Mác – Lênin về con người, thực tiễn và vai trò quần chúng nhân dân, bài viết phân tích công tác xã hội và quan hệ biện chứng của nó với phát triển bền vững, bằng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp phân tích văn bản và đối chiếu chính sách. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của công tác xã hội, từ đó đề xuất giải pháp thực hiện tốt công tác xã hội nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam.
Từ khóa: công bằng xã hội; công tác xã hội; phát triển bền vững; phát triển con người; triết học Mác – Lênin
SOCIAL WORK AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT IN VIET NAM FROM THE MARXIST-LENINIST PHILOSOPHICAL PERSPECTIVE
Abstract: Sustainable development is not limited to economic growth and environmental protection; above all, it entails human development, the promotion of social progress and social justice, and the participation of all members of society in community life. Drawing on Marxist-Leninist philosophical perspectives on human beings, practice, and the role of the masses, this article examines social work and its dialectical relationship with sustainable development. The study employs dialectical materialism and historical materialism, combined with textual analysis and policy comparison. The findings affirm the important role of social work and, on that basis, propose solutions to improve the implementation of social work in support of sustainable development in Viet Nam.
Keywords: human development; Marxist-Leninist philosophy; social justice; social work; sustainable development
1. Đặt vấn đề
Phát triển bền vững trở thành định hướng bao trùm của phát triển quốc gia trong thế kỷ XXI. Báo cáo Tương lai chung của chúng ta (Our Common Future) xác định phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (World Commission on Environment and Development, 1987, tr.43). Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc cụ thể hóa quan niệm này bằng 17 mục tiêu, đặt con người ở trung tâm và cam kết không để ai bị bỏ lại phía sau (Thủ tướng Chính phủ, 2017). Tuy nhiên, phát triển bền vững không chỉ đặt ra yêu cầu hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, mà còn phải bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
Ở Việt Nam, thành tựu đổi mới tạo nguồn lực quan trọng để nâng cao đời sống nhân dân, nhưng cũng làm xuất hiện nhiều vấn đề xã hội mới, như chênh lệch cơ hội giữa các vùng, nhóm dân cư; già hóa dân số; di cư lao động; bạo lực trên cơ sở giới; sức khỏe tâm thần; thiên tai, biến đổi khí hậu; bất bình đẳng số. Các vấn đề này có thể tích tụ thành vòng xoáy bất lợi: một cú sốc việc làm có thể kéo theo nghèo đói, gián đoạn học tập, căng thẳng tâm lý và bạo lực gia đình. Qua 40 năm đổi mới, Đảng nhận định an sinh xã hội, an ninh con người, phúc lợi xã hội “chưa được bảo đảm vững chắc”; đồng thời, phân hóa giàu – nghèo có xu hướng gia tăng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.67). Vì vậy, bên cạnh việc ban hành chính sách phù hợp, cần có hệ thống dịch vụ chuyên nghiệp để đánh giá nhu cầu, quản lý trường hợp, kết nối nguồn lực và theo dõi kết quả, qua đó đưa quyền và nguồn lực công đến được với người dân.
Công tác xã hội đáp ứng trực tiếp yêu cầu đó. Nghị định số 110/2024/NĐ-CP ngày 30/8/2024 của Chính phủ “về công tác xã hội” quy định tương đối đồng bộ về hành nghề công tác xã hội chuyên nghiệp, quyền và nghĩa vụ của đối tượng và người hành nghề, điều kiện và thủ tục đăng ký hành nghề (Chính phủ, 2024). Vì vậy, công tác xã hội không thể bị đồng nhất với từ thiện hay trợ giúp tự phát mà đang trở thành một cấu phần của quản trị phát triển xã hội.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Khái quát về công tác xã hội và phát triển bền vững
Theo định nghĩa toàn cầu được Liên đoàn Nhân viên công tác xã hội quốc tế thông qua năm 2014, công tác xã hội là một nghề dựa trên thực hành và một ngành khoa học, thúc đẩy biến đổi và phát triển xã hội, gắn kết xã hội, trao quyền và giải phóng con người; công bằng xã hội, quyền con người, trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự đa dạng là những nguyên tắc trung tâm (International Federation of Social Workers, 2014). Định nghĩa này cho thấy công tác xã hội có nền tảng khoa học và hệ phương pháp nghề nghiệp; tác động đến cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và thiết chế xã hội; không dừng ở cứu trợ mà hướng đến phục hồi chức năng, phát triển năng lực và thay đổi những điều kiện gây bất lợi; được dẫn dắt bởi công bằng xã hội và quyền con người.
Nghị định số 110/2024/NĐ-CP xác định hành nghề công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp, thực hiện các hoạt động chuyên môn sâu, như phòng ngừa, can thiệp, trị liệu, chăm sóc, phục hồi, hỗ trợ phát triển, tư vấn, tham vấn và hỗ trợ tâm lý (Chính phủ, 2024). Qua đó, có thể phân biệt công tác xã hội chuyên nghiệp với từ thiện: từ thiện có giá trị nhân đạo, thường đáp ứng nhu cầu cấp thời trên cơ sở tự nguyện cho – nhận; công tác xã hội dựa trên đánh giá khoa học, kế hoạch can thiệp, nguyên tắc bảo mật, quyền tự quyết của đối tượng và trách nhiệm giải trình, giúp con người tự giải quyết vấn đề, tiếp cận nguồn lực và tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến chính họ.
Phát triển bền vững là chỉnh thể thống nhất trên ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường, được bảo đảm bởi thể chế và sự tham gia của các chủ thể: về kinh tế, tạo sinh kế và nguồn lực lâu dài; về xã hội, mở rộng cơ hội, giảm bất bình đẳng, bảo đảm quyền và củng cố gắn kết; về môi trường, duy trì điều kiện tự nhiên cho các thế hệ. Vì vậy, phát triển bền vững không thể chỉ được đánh giá qua tổng sản phẩm quốc nội (GDP), mà còn phải xem xét chất lượng cuộc sống, năng lực chống chịu, khả năng tiếp cận dịch vụ và sự tham gia của người dân.
Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) công nhận quyền được bảo đảm an sinh xã hội và trách nhiệm tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội. Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, đặt mục tiêu xây dựng hệ thống chính sách xã hội bền vững, tiến bộ, công bằng, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh con người (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023). Quyết định số 112/QĐ-TTg ngày 22/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ “ban hành Chương trình phát triển công tác xã hội giai đoạn 2021-2030” xác định phát triển công tác xã hội ở các ngành, các cấp (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới chỉ ra “phát triển xã hội bền vững là phát triển cho con người, vì con người, vì hạnh phúc con người” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.62), đòi hỏi hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao phủ toàn dân, “bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.63). Những định hướng này là cơ sở chính trị – pháp lý để xem công tác xã hội là một bộ phận của năng lực phát triển quốc gia.
2.2. Nhận thức vai trò của công tác xã hội trên cơ sở triết học Mác – Lênin
Một là, quan niệm duy vật lịch sử về con người giúp vượt qua cách nhìn quy giản người gặp khó khăn thành một cá nhân “có vấn đề”. Trong Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác chỉ rõ, bản chất con người, trong tính hiện thực của nó, là tổng hòa những quan hệ xã hội (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.11). Luận điểm này không phủ nhận đặc điểm sinh học hay cá tính, mà nhấn mạnh con người hình thành và phát triển trong mạng lưới quan hệ kinh tế, gia đình, văn hóa, pháp luật và cộng đồng. Do đó, công tác xã hội phải đánh giá cả năng lực chủ thể, cấu trúc cơ hội và những quan hệ duy trì bất lợi.
Hai là, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và quan điểm toàn diện xem phát triển bền vững như một hệ thống. Mỗi vấn đề xã hội vừa có nguyên nhân trực tiếp, vừa bị quy định bởi các quan hệ sâu xa và lan truyền hệ quả: nghèo đói làm giảm khả năng tiếp cận giáo dục và y tế, hạn chế về giáo dục làm suy yếu cơ hội việc làm, việc làm bấp bênh lại làm tăng nguy cơ tái nghèo. Bằng quản lý trường hợp và phối hợp liên ngành, công tác xã hội kết nối các bộ phận còn phân mảnh của hệ thống dịch vụ.
Ba là, quan điểm về sự phát triển và lý luận về mâu thuẫn cho phép nhận diện động lực và xung đột trong quá trình phát triển. Kinh tế thị trường giải phóng sức sản xuất nhưng cũng làm gia tăng phân tầng và có thể chuyển dịch rủi ro về phía nhóm ít nguồn lực; chuyển đổi số mở rộng tiếp cận nhưng có thể tạo bất bình đẳng số; chuyển đổi xanh đem lại lợi ích dài hạn nhưng chi phí điều chỉnh có thể tập trung vào lao động kỹ năng thấp và cộng đồng phụ thuộc vào sinh kế cũ. Mâu thuẫn không được xử lý thích hợp có thể làm suy giảm đồng thuận đối với chính sách phát triển. Vai trò của công tác xã hội là phát hiện sớm các biểu hiện xã hội của mâu thuẫn, tổ chức đối thoại, biện hộ cho nhóm yếu thế và kiến nghị điều chỉnh chính sách, qua đó chuyển xung đột tiềm tàng thành sự tham gia xã hội có tổ chức trên cơ sở khoa học, pháp luật và lợi ích phát triển lâu dài.
Bốn là, quan điểm thực tiễn làm rõ bản chất hành động của công tác xã hội. C.Mác phê phán chủ nghĩa duy vật trực quan vì chỉ xem hiện thực như đối tượng chiêm ngưỡng, chưa nắm hoạt động cảm tính của con người, đồng thời khẳng định đời sống xã hội về bản chất có tính thực tiễn (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.9-12). Công tác xã hội không dừng ở diễn giải nguyên nhân hay tuyên truyền chính sách mà phải tổ chức quá trình can thiệp có mục tiêu: khảo sát, đánh giá, lập kế hoạch, huy động nguồn lực, thực hiện, lượng giá, kết thúc hoặc chuyển tiếp trường hợp; kết quả thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm phương án trợ giúp.
Năm là, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân định hướng nguyên tắc tham gia và trao quyền. Người dân không phải là đối tượng thụ động của phát triển mà là chủ thể sáng tạo lịch sử. Vì vậy, công tác xã hội, về nguyên tắc, không làm thay, quyết định thay hoặc duy trì sự lệ thuộc mà phải trao quyền, mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, nguồn lực, tổ chức và quá trình ra quyết định.
Sáu là, quan niệm về công bằng xã hội phải được đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể. Công bằng thực chất đòi hỏi phân bổ nguồn lực theo nhu cầu hợp lý, loại bỏ rào cản và tạo điều kiện phát triển năng lực. Trên cơ sở đánh giá chuyên môn và chuẩn mực đạo đức, công tác xã hội cá thể hóa sự hỗ trợ mà không tùy tiện, làm cầu nối giữa tính phổ quát của quyền công dân với tính cụ thể của từng hoàn cảnh sống.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết tiếp cận bằng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem công tác xã hội là hoạt động thực tiễn gắn với các quan hệ xã hội và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Các phương pháp cụ thể gồm phân tích văn bản, khái quát hóa lý luận và đối chiếu chính sách. Tư liệu gồm các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin; định nghĩa toàn cầu về công tác xã hội, báo cáo quốc tế về phát triển bền vững và các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Hiến pháp, pháp luật và chính sách của Nhà nước về công tác xã hội.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Vai trò của công tác xã hội đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, công tác xã hội chuyển hóa chính sách xã hội và quyền con người thành khả năng thụ hưởng thực tế. Khoảng cách giữa quyền được ghi nhận và quyền có thể thực hiện là thách thức phổ biến: người dân có thể đủ điều kiện hưởng chính sách nhưng không biết thông tin, thiếu giấy tờ, thiếu kỹ năng số hoặc không thể tự phối hợp với nhiều cơ quan. Nhân viên công tác xã hội sàng lọc, đánh giá nhu cầu, cung cấp thông tin, hỗ trợ thủ tục, chuyển gửi và theo dõi, nhờ đó chính sách được thực thi, nguồn lực của Nhà nước và xã hội được chuyển đến đúng người, đúng nhu cầu, đúng thời điểm.
Thứ hai, công tác xã hội phòng ngừa, nhận diện sớm, can thiệp và phục hồi đối với các rủi ro xã hội. Phát triển bền vững đòi hỏi tăng năng lực dự báo và chống chịu, không chỉ bù đắp thiệt hại sau khủng hoảng. Thông qua tiếp xúc trực tiếp với cộng đồng, nhân viên công tác xã hội có thể phát hiện sớm dấu hiệu bỏ học, bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em, trầm cảm, lạm dụng chất gây nghiện hoặc suy kiệt của người chăm sóc; can thiệp sớm góp phần hạn chế tổn thương kéo dài và giảm áp lực lên y tế, tư pháp, giáo dục.
Trong thiên tai và biến đổi khí hậu, công tác xã hội tham gia lập bản đồ nhóm dễ bị tổn thương, xây dựng kế hoạch sơ tán, ưu tiên người cao tuổi và người khuyết tật, hỗ trợ tâm lý – xã hội sau thảm họa và phục hồi sinh kế, vì thiên tai không tác động đồng đều: người nghèo, người sống một mình, phụ nữ mang thai, trẻ em và người khuyết tật có ít khả năng tự bảo vệ hơn.
Trong chuyển đổi số, công tác xã hội vừa sử dụng công nghệ để mở rộng dịch vụ, vừa bảo vệ những người có nguy cơ bị loại trừ. Tư vấn từ xa, hồ sơ điện tử và bản đồ dịch vụ có thể giảm chi phí tiếp cận, nhưng người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo hoặc người ở vùng khó khăn có thể thiếu thiết bị, kết nối và kỹ năng; bạo lực mạng và rò rỉ dữ liệu tạo thêm rủi ro. Tổng kết 40 năm đổi mới, Đảng khẳng định một số vấn đề của xã hội số “chậm được nhận diện và thiếu cơ chế xử lý kịp thời” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.67). Nhân viên công tác xã hội cần hỗ trợ đối tượng nâng cao năng lực số, bảo vệ dữ liệu và duy trì hỗ trợ trực tiếp khi cần thiết.
Thứ ba, công tác xã hội phát triển năng lực chủ thể, biến người thụ hưởng thành người tham gia quá trình phát triển. Trợ giúp bền vững không chỉ đáp ứng thiếu hụt vật chất; nếu đối tượng không tăng được năng lực tự quyết và khả năng huy động nguồn lực thì sự lệ thuộc có thể tái diễn. Phương pháp dựa trên điểm mạnh nhận diện kinh nghiệm, quan hệ và khả năng của cá nhân, gia đình, cộng đồng; nhân viên công tác xã hội không nhìn nhận con người chỉ qua những thiếu hụt mà cùng họ xây dựng mục tiêu khả thi, phù hợp với nhận định của Đảng rằng cách tiếp cận chính sách xã hội đã điều chỉnh “từ bảo đảm và ổn định sang ổn định và phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.64).
Ở cấp cộng đồng, vai trò này thể hiện qua tổ chức nhóm tự lực, hỗ trợ sinh kế, giáo dục kỹ năng và phát triển lãnh đạo cộng đồng. Khi cộng đồng tự xác định vấn đề, thương lượng lợi ích và huy động nguồn lực tại chỗ, kết quả phát triển ít phụ thuộc vào dự án ngắn hạn, phù hợp với quan điểm coi quần chúng nhân dân là chủ thể của lịch sử.
Thứ tư, công tác xã hội góp phần điều hòa lợi ích, củng cố gắn kết và đồng thuận xã hội. Nếu tiếng nói của nhóm yếu thế không được phản ánh, chi phí xã hội của tăng trưởng nhanh có thể không được phản ánh đầy đủ qua các chỉ số kinh tế. Công tác xã hội giúp nhu cầu của người dân được nhận diện từ cơ sở, hỗ trợ đối thoại giữa người dân với cơ quan cung ứng dịch vụ, hòa giải xung đột và biện hộ cho quyền lợi hợp pháp, qua đó củng cố niềm tin xã hội – đúng như yêu cầu của Đảng về “kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.275).
Thứ năm, công tác xã hội góp phần phát triển nguồn lực con người và tái sản xuất xã hội bền vững. Sức khỏe, giáo dục, an toàn và quan hệ gia đình là điều kiện để con người lao động, sáng tạo; khủng hoảng tâm lý, bạo lực, bỏ học, nghiện chất hoặc gánh nặng chăm sóc không được xử lý sẽ làm hao mòn nguồn lực con người, giảm năng suất và truyền bất lợi qua các thế hệ. Từ góc độ kinh tế, giá trị của công tác xã hội còn thể hiện ở khả năng phòng ngừa tổn thất và phục hồi năng lực của con người.
Trong bối cảnh già hóa dân số, chăm sóc dài hạn dựa vào cộng đồng cần được đặt ở vị trí chiến lược. Khi quy mô hộ giảm, di cư tăng và phụ nữ tham gia thị trường lao động, nếu trách nhiệm chăm sóc tiếp tục dồn lên gia đình, đặc biệt là phụ nữ, bất bình đẳng giới và nguy cơ kiệt sức có thể gia tăng. Công tác xã hội có thể đánh giá nhu cầu, quản lý chăm sóc, hỗ trợ người chăm sóc và kết nối y tế – phục hồi – trợ giúp xã hội, qua đó bảo vệ phẩm giá người cao tuổi.
Thứ sáu, công tác xã hội cung cấp bằng chứng và phản hồi để hoàn thiện quản trị phát triển xã hội. Nhân viên công tác xã hội ở tuyến đầu quan sát được những khoảng trống mà thống kê hành chính khó phản ánh: nhóm nào bị tiêu chí hiện hành bỏ sót, thủ tục nào tạo rào cản. Nếu được hệ thống hóa đúng chuẩn, các dữ liệu này giúp dự báo nhu cầu, phân bổ ngân sách, thiết kế dịch vụ và đánh giá tác động xã hội.
Sáu vai trò nêu trên cho thấy công tác xã hội tác động đến cả ba trụ cột của phát triển bền vững: về xã hội, bảo vệ quyền và giảm loại trừ; về kinh tế, phục hồi khả năng học tập, lao động; về môi trường, đưa công bằng xã hội vào thích ứng khí hậu và chuyển đổi xanh. Mối liên kết của ba trụ cột là con người: vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là chủ thể của phát triển.
3.2. Những vấn đề đặt ra đối với công tác xã hội trong phát triển bền vững
Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm ở Việt Nam chỉ rõ “tỉ lệ bao phủ của bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp chưa cao, độ bao phủ của trợ giúp xã hội còn hạn chế, mức trợ giúp cơ bản còn thấp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.129-130). Báo cáo cũng chỉ ra nhiều vấn đề về chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội bền vững đã được đặt ra nhưng “chậm nghiên cứu, giải quyết” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.232), trong đó có già hóa dân số, phân hóa giàu nghèo và quản trị xã hội. Từ đó, có thể nhận diện năm nhóm vấn đề.
Một là, nhận thức xã hội về nghề công tác xã hội vẫn chưa đồng đều. Ở không ít nơi, công tác xã hội còn bị đồng nhất với từ thiện, vận động quyên góp hoặc nhiệm vụ kiêm nhiệm. Cách hiểu này làm mờ yêu cầu chuyên môn, đạo đức và trách nhiệm giải trình, khiến cơ quan sử dụng lao động chưa bố trí đúng vị trí việc làm và nhân viên khó thực hiện quản lý trường hợp, tham vấn, biện hộ một cách độc lập, liên tục.
Hai là, mạng lưới dịch vụ còn phân mảnh theo ngành và nhóm đối tượng. Một trường hợp phức hợp có thể phải đi qua nhiều đầu mối y tế, giáo dục, tư pháp, bảo hiểm, trợ giúp xã hội nhưng thiếu cơ chế điều phối thống nhất; thông tin không liên thông khiến người dân phải trình bày nhiều lần, trong khi trách nhiệm theo dõi sau chuyển gửi chưa rõ. Khoảng trống lớn nằm ở dịch vụ dựa vào cộng đồng, chăm sóc dài hạn, sức khỏe tâm thần và hỗ trợ tại tuyến cơ sở.
Ba là, nguồn nhân lực chưa tương xứng với nhu cầu. Đào tạo đã mở rộng nhưng chất lượng thực hành, giám sát nghề nghiệp và điều kiện làm việc còn khác biệt. Nhiều người làm công tác xã hội chưa được đào tạo đúng chuyên ngành, trong khi một bộ phận người được đào tạo công tác xã hội lại được bố trí làm công việc hành chính không phù hợp chuyên môn. Áp lực trường hợp, sang chấn thứ cấp, thu nhập và lộ trình nghề nghiệp chưa hấp dẫn có thể dẫn tới kiệt sức và rời bỏ nghề.
Bốn là, dữ liệu và hệ thống đo lường kết quả còn yếu. Số lượt hỗ trợ không đồng nghĩa với thay đổi bền vững: nếu chỉ báo cáo đầu vào và hoạt động, cơ quan quản lý khó biết đối tượng có thực sự phục hồi chức năng, duy trì sinh kế hay tái hòa nhập hay không; thiếu bộ chỉ số kết quả thống nhất cũng làm giảm khả năng so sánh giữa các mô hình.
Năm là, những biến đổi mới làm phạm vi nghề mở rộng nhanh. Già hóa, di cư, khủng hoảng sức khỏe tâm thần, thiên tai cực đoan, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh tạo ra nhu cầu mà mô hình trợ giúp truyền thống chưa đáp ứng; thách thức không chỉ là tăng số lượng nhân viên mà còn là đổi mới năng lực: làm việc liên ngành, can thiệp dựa trên bằng chứng, năng lực số, nhạy cảm giới và văn hóa.
3.3. Giải pháp phát huy vai trò của công tác xã hội đối với phát triển bền vững
Thứ nhất, thống nhất nhận thức công tác xã hội là cấu phần của quản trị phát triển xã hội, không phải hoạt động bổ trợ chỉ mang tính thiện nguyện. Cần đưa mục tiêu phát triển dịch vụ công tác xã hội vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của từng cấp; xác định rõ nhóm ưu tiên, chuẩn dịch vụ, nhân lực và ngân sách; đánh giá tác động xã hội của các chính sách, chương trình lớn cần có sự tham gia của người hành nghề công tác xã hội.
Thứ hai, tổ chức thực hiện đầy đủ Nghị định số 110/2024/NĐ-CP và rà soát đồng bộ hệ thống pháp luật liên quan, trọng tâm là đăng ký hành nghề, chuẩn đạo đức, bảo mật và trách nhiệm của cơ sở cung cấp dịch vụ. Cần làm rõ vị trí việc làm công tác xã hội trong lĩnh vực y tế, giáo dục, tư pháp, trợ giúp xã hội và chính quyền cơ sở; khắc phục tình trạng giao nhiệm vụ chuyên môn sâu cho nhân sự không đủ năng lực.
Thứ ba, phát triển mạng lưới dịch vụ đa tầng, lấy cộng đồng làm nền tảng và liên thông chuyên ngành. Tuyến cơ sở cần có đầu mối sàng lọc, quản lý trường hợp và chuyển gửi; tuyến chuyên sâu cung cấp trị liệu, phục hồi và xử lý ca phức tạp; cần thiết lập quy chế phối hợp giữa các cơ quan nội vụ, y tế, giáo dục, công an, tư pháp, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và cơ sở dịch vụ, quy định rõ trách nhiệm điều phối, phản hồi và theo dõi sau chuyển gửi.
Thứ tư, đầu tư có trọng điểm cho nguồn nhân lực. Chương trình đào tạo phải tăng thời lượng thực hành có giám sát, phương pháp dựa trên bằng chứng, đạo đức nghề, kỹ năng số và làm việc liên ngành; cần xây dựng hệ thống giám sát nghề nghiệp, cơ chế hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho người hành nghề và lộ trình phát triển nghề nghiệp. Đào tạo lại phải gắn với vị trí việc làm, không chạy theo chứng chỉ hình thức.
Thứ năm, đổi mới cơ chế tài chính và xã hội hóa theo hướng Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, bảo đảm công bằng. Ngân sách công cần ưu tiên dịch vụ thiết yếu, phòng ngừa và nhóm khó có khả năng chi trả; có thể đặt hàng tổ chức xã hội cung cấp dịch vụ trên cơ sở tiêu chuẩn, định mức, hợp đồng kết quả và kiểm định độc lập. Xã hội hóa không có nghĩa là chuyển gánh nặng chi phí cho người dân hoặc buông lỏng trách nhiệm của Nhà nước.
Thứ sáu, xây dựng hệ thống dữ liệu và đo lường kết quả gắn với các mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh số lượt tiếp cận, cần theo dõi mức độ cải thiện chức năng xã hội, an toàn, sức khỏe tâm lý, việc làm, khả năng tự chủ và sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ. Dữ liệu phải được phân tách theo giới, tuổi, khuyết tật, dân tộc, địa bàn để nhận diện bất bình đẳng, đồng thời tuân thủ nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Thứ bảy, chủ động mở rộng công tác xã hội sang các không gian phát triển mới: kết hợp dịch vụ trực tuyến và trực tiếp, xây dựng quy trình can thiệp đối với tổn thương trên môi trường mạng trong chuyển đổi số; đánh giá tác động xã hội và hỗ trợ chuyển đổi sinh kế trong chuyển đổi xanh, bảo đảm “chuyển đổi công bằng”; tham gia từ khâu chuẩn bị, ứng phó đến phục hồi trong thích ứng khí hậu; phát triển mạng lưới chăm sóc dài hạn dựa vào cộng đồng và hỗ trợ người chăm sóc trong bối cảnh già hóa dân số.
Thứ tám, bảo đảm sự tham gia thực chất của người sử dụng dịch vụ. Người dân và nhóm người dễ bị tổn thương cần được tham gia thiết kế, giám sát, đánh giá chương trình; có cơ chế khiếu nại an toàn, dễ tiếp cận. Sự tham gia giúp dịch vụ phù hợp hơn với nhu cầu và văn hóa, khắc phục quan hệ ban phát, là điều kiện để hiện thực hóa quan điểm về vai trò chủ thể của quần chúng nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.
4. Kết luận
Dưới góc nhìn triết học Mác – Lênin, vai trò của công tác xã hội đối với phát triển bền vững được xác lập không chỉ từ tình cảm nhân đạo, mà từ bản chất xã hội của con người, tính hệ thống của đời sống xã hội, vai trò của thực tiễn và địa vị chủ thể của quần chúng nhân dân. Con người vừa chịu tác động của hoàn cảnh, vừa cải biến hoàn cảnh bằng thực tiễn; vì vậy, trợ giúp bền vững phải đồng thời phục hồi năng lực cá nhân và cải thiện các quan hệ, thiết chế xã hội cản trở phát triển.
Công tác xã hội là mắt xích chuyển hóa chính sách thành khả năng thụ hưởng thực tế; là cơ chế phòng ngừa và quản trị rủi ro; là phương thức trao quyền, phát triển năng lực chủ thể; là kênh điều hòa lợi ích, củng cố đồng thuận; là yếu tố góp phần phát triển nguồn lực con người; đồng thời là nguồn bằng chứng để hoàn thiện quản trị phát triển xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và già hóa dân số, vai trò này càng có ý nghĩa chiến lược.
Nghị định số 110/2024/NĐ-CP tạo nền tảng pháp lý mới, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào tổ chức thực hiện: nhận thức đúng về nghề, vị trí việc làm rõ ràng, nhân lực đủ năng lực, dịch vụ liên thông, tài chính bền vững, quản trị dữ liệu có trách nhiệm và sự tham gia thực chất của người dân. Vì vậy, phát triển công tác xã hội không chỉ là phát triển một nghề, mà còn là đầu tư vào năng lực xã hội của quốc gia, để không ai bị loại khỏi tiến trình phát triểnq
Ngày nhận: 27/7/2026; Ngày phản biện: 11/9/2026;
Ngày duyệt đăng: 25/9/2026
Email liên hệ: xuanthanh@ueh.edu.vn
————————————————————————
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Chính phủ (2024). Nghị định số 110/2024/NĐ-CP ngày 30/8/2024 về công tác xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
International Federation of Social Workers (2014). Global definition of social work. https://www.ifsw.org/what-is-social-work/global-definition-of-social-work/
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia.
Quốc hội (2025). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 112/QĐ-TTg ngày 22/01/2021 ban hành Chương trình phát triển công tác xã hội giai đoạn 2021-2030.
World Commission on Environment and Development (1987). Our common future. Oxford University Press.
(Tạp chí Khoa học chính trị Số 7/2026)







