NGUYỄN NGỌC ÁNH(*)
NGUYỄN THỊ DUNG(**)

(*) PGS, TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(**) Trường Chính trị tỉnh Đắk Nông

Tóm tắt: Công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò rất quan trọng, là một nội dung trong công tác dân vận của Đảng nhằm tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đắk Nông là một tỉnh miền núi, biên giới, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để kích động, chống phá, lôi kéo, dụ dỗ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia các hoạt động gây rối, làm mất ổn định chính trị. Nhận thức rõ điều này, Đảng bộ tỉnh Đắk Nông xác định công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đóng vai trò đặc biệt quan trọng nhằm củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Nông lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã đề ra.
Từ khóa: công tác dân vận; Đắk Nông; đồng bào dân tộc thiểu số

1. Đặt vấn đề
Đắk Nông là tỉnh miền núi, có khoảng 141 km đường biên giới với 02 cửa khẩu Bu Prăng và Đắk Peur giáp với tỉnh Mondulkiri, Camphuchia. Tỉnh Đắk Nông có 40 dân tộc cùng sinh sống, dân số là 691.506 người, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số là 292.852 người, chiếm 42,3% dân số toàn tỉnh, 03 dân tộc thiểu số tại chỗ (M’Nông, Mạ, và Ê Đê) với 71.754 người chiếm 10,05% dân số toàn tỉnh và chiếm 32,82% tổng số dân tộc thiểu số(1). Những năm qua, với sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đã có những đóng góp quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế – xã hội đề ra. Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số chưa toàn diện, thiếu kịp thời; công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận của một số cấp ủy chưa được quan tâm đúng mức, một bộ phận cán bộ hạn chế về trình độ, năng lực, kỹ năng, phương pháp dẫn đến chất lượng, hiệu quả thực hiện công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa cao. Thực trạng này đòi hỏi tỉnh Đắk Nông phải đẩy mạnh công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao nhận thức cho người dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc.
2. Thực trạng công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Nông
– Những kết quả đạt được
Một là, Tỉnh ủy đã quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 “về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 06-KH/TU ngày 25/12/2015 “về triển khai thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW ”với 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, chỉ đạo các đảng bộ trực thuộc, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị. Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, 100% các chi bộ, đảng bộ đã nghiêm túc tổ chức học tập, quán triệt thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW đến toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, cán bộ, đảng viên trong toàn tỉnh về vị trí, vai trò của công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng ban hành Chương trình số 26-CTr/TU ngày 31/8/2021 thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Nông lần thứ XII “về nâng cao đời sống vật chất – tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 – 2025”; Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 16/12/2021 của Tỉnh ủy Đắk Nông “về công tác giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 và định hướng đến năm 2030”; Nghị quyết số 11/2022/NQ-HĐND ngày 14/12/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh “về việc Quy định một số chính sách thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2023 – 2025 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”.
Hai là, tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ cho đồng bào dân tộc thiểu số. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền phù hợp với tình hình của địa phương, đơn vị; lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí trên địa bàn tỉnh, nhất là Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Đắk Nông, Tạp chí Nâm Nung,… phối hợp với các ban, ngành liên quan tổ chức tuyên truyền sâu rộng, mở các chuyên trang, chuyên mục sát thực tế (chương trình Tiếng M’Nông, chuyên mục “Dân tộc phát triển”), phù hợp với nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số về Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026. Điều này đã góp phần tích cực trong việc đưa thông tin tuyên truyền từ tỉnh đến cơ sở, giúp đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không nghe và tin theo người xấu, đấu tranh phòng, chống các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch, xóa bỏ mê tín dị đoan, tập tục lạc hậu.
Ba là, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân đồng bào dân tộc thiểu số. Việc triển khai thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc nói chung và Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông nói riêng đã được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức, triển khai thực hiện.
Các chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được hỗ trợ phát triển. Hiện nay, tỉnh Đắk Nông đã hình thành được 65 liên kết thuộc 09 ngành hàng nông sản và khoảng 9.660 hộ dân tham gia(2), trong đó có nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện Nghị quyết số 18/2021/NQ-HĐND ngày 15/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông “về chính sách hỗ trợ lãi suất đối với hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”, các huyện, thành phố đã phân bổ tổng kinh phí là: 9.705,186 triệu đồng, thực hiện hỗ trợ cho: 1.271 hộ với số tiền là 7.249,625 triệu đồng (xem Bảng), cụ thể:
Công tác hỗ trợ nhà ở, khắc phục tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số được tất cả các cấp, ngành, địa phương đặc biệt quan tâm; việc tổ chức rà soát, thống kê những hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số cần được sửa chữa nhà ở hoặc xây dựng mới được tiến hành thường xuyên để có kế hoạch ưu tiên hỗ trợ. Năm 2023 đã thực hiện và giải ngân 8.910 triệu đồng, đạt 14,26% so với kế hoạch vốn(4). Việc thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với đối tượng hộ nghèo, cận nghèo người đồng bào dân tộc thiểu số giúp nhiều hộ gia đình từ chỗ không có nhà ở hoặc nhà tạm bợ đã có nhà ở khang trang để ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng.
Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 38.191 hộ/173.973 khẩu dân di cư ngoài kế hoạch từ các tỉnh, thành phố trên cả nước đến sinh sống. Trong đó, các thành phần dân tộc chủ yếu bao gồm: Mông, Tày, Nùng, Thái, Dao, Mường,… Khoảng 32.741 hộ/149.643 khẩu đã ổn định đời sống tại chỗ được bố trí, sắp xếp vào các dự án tập trung, xen ghép, còn khoảng 5.450 hộ/24.330 khẩu chưa ổn định cuộc sống, cần bố trí, sắp xếp trong thời gian tới. Theo kế hoạch, tỉnh Đắk Nông đã thực hiện quy hoạch sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết, giải ngân 65.046 triệu đồng và sẽ hoàn thành công tác bố trí chỗ ở, đất sản xuất cho 5.340 hộ dân với gần 24.330 nhân khẩu(5).
Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân luôn được quan tâm, chú trọng. Các cơ sở khám, chữa bệnh bảo đảm tốt việc trực và điều trị bệnh; các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, giám sát dịch bệnh được triển khai hiệu quả.
Chất lượng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú từng bước được nâng cao. Các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn (trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số) về trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế, chế biến và bảo quản các sản phẩm nông nghiệp được mở thường xuyên. Cụ thể, tỉnh Đắk Nông đã tổ chức đào tạo nghề cho 5.776 người, trong đó, đào tạo nghề cho người đồng bào dân tộc thiểu số: 05 trình độ cao đẳng, 579 trình độ trung cấp, 1.538 trình độ sơ cấp và dưới 03 tháng. Phát triển giáo dục, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã giải ngân 12.416 triệu đồng(6).
Bốn là, tổ chức nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh; tham gia giám sát và phản biện xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và đoàn thể các cấp đã thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số với nội dung cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, hướng về cơ sở, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới,… Triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị “về ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội”, Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị “về ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Tổ chức nhiều đợt giám sát, nội dung giám sát tập trung vào việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân ở cơ sở, công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo ở cơ sở. Cụ thể, các cơ quan có trách nhiệm giải quyết đã tiếp 1.800 lượt công dân, nhận 780 đơn thư khiếu nại, tố cáo, xử lý, tạo được sự đồng thuận trong nhân dân; đối thoại trực tiếp qua tiếp xúc cử tri trên 300 buổi với trên 25.320 lượt người tham gia, hơn 3.288 ý kiến và 25.163 ý kiến tham gia góp ý dự thảo luật (sửa đổi)(7).
Năm là, tổ chức phong trào “dân vận khéo” nhằm động viên, khích lệ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự ở địa phương. Phong trào thi đua “dân vận khéo” đã được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện triển khai sâu rộng và ngày càng đi vào chiều sâu trong đồng bào dân tộc thiểu số, các ngành, cơ quan, đơn vị. Các phong trào hướng tới nội dung thi đua yêu nước ở địa bàn dân cư, các hoạt động xung kích, tình nguyện, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư gắn với các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2021 – 2025, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. 10 năm qua (2013 – 2023), toàn tỉnh có 420 mô hình của tập thể và 277 mô hình của cá nhân được công nhận “dân vận khéo”(8). Nhiều mô hình đã tạo được sự đồng thuận, hưởng ứng, sức lan tỏa, cổ vũ, động viên của đông đảo đồng bào đồng bào dân tộc thiểu số, như mô hình “Tiết học vùng biên” của Đảng ủy Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đắk Nông; mô hình “05 cán bộ, đảng viên giúp một hộ dân thoát nghèo” của Huyện ủy Đắk Song; mô hình “Chia sẻ yêu thương, đưa em vững bước tới trường” của Huyện ủy Đắk Glong; mô hình “Thoát nghèo bền vững trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ” của Huyện ủy Krông Nô,… và nhiều mô hình khác đã, đang được thực hiện trong toàn tỉnh.
– Một số hạn chế, bất cập
Thứ nhất, việc quán triệt và triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước ở một số nơi chưa kịp thời, hiệu quả thấp. Việc cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị, kết luận về công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lúng túng. Chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu, đề xuất về công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa cao. Nhiều cán bộ chưa hiểu văn hóa, phong tục tập quán, chưa nói được tiếng dân tộc thiểu số, chưa thường xuyên đi cơ sở. Ở một số địa phương, việc quán triệt đường lối của Đảng chưa tạo được chuyển biến trong nhận thức của người dân dẫn đến tình trạng tự ý xây dựng nhà trái phép, lấn chiếm rừng phòng hộ để làm nhà, canh tác,…
Thứ hai, công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trình độ cho đồng bào dân tộc thiểu số ở một số xã chưa phù hợp, hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền của một số cấp ủy đảng còn theo lối mòn. Chất lượng cán bộ làm công tác dân vận ở một số thôn, bon trên địa bàn các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế. Nhiều cán bộ chưa được đào tạo về kỹ năng tiếp dân, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng vận động, thuyết phục quần chúng, chưa hiểu sâu sắc về tiếng nói và phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số nên gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi tuyên truyền, vận động.
Thứ ba, chưa kịp thời nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở địa bàn phức tạp; việc chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ở một số xã chưa được bảo đảm. Một số vấn đề bức xúc, như thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt chưa được giải quyết hiệu quả; công tác đào tạo nghề ở nông thôn chưa thực sự mang lại sinh kế bền vững giúp đồng bào thoát nghèo.
Thứ tư, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội các cấp trên địa bàn tỉnh chưa phát huy hiệu quả vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số tham gia xây dựng Đảng, thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Đồng bào dân tộc thiểu số tham gia góp ý xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đạo đức còn đơn điệu, chủ yếu thông qua việc tổ chức họp dân, tiếp xúc cử tri, đối thoại với nhân dân. Việc tiếp nhận, giải quyết đơn thư, kiểm tra, xác minh nội dung khiếu nại, tố cáo có thời điểm, có nơi chưa được thực hiện đúng thẩm quyền và quy trình. Công tác đối thoại trực tiếp với công dân, vận động, giải thích, hướng dẫn người dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo theo đúng quy trình của pháp luật chưa được chú trọng thực hiện; nhiều vụ việc bức xúc chưa được giải quyết tại cơ sở, nên có không ít đơn thư khiếu kiện vượt cấp.
Thứ năm, việc triển khai thực hiện phong trào “dân vận khéo” chưa có chuyển biến tích cực. Việc xây dựng mô hình “dân vận khéo” của một số đảng bộ huyện chưa nhiều, việc rút kinh nghiệm trong triển khai nhân rộng mô hình “dân vận khéo” chưa được quan tâm. Công tác chỉ đạo và triển khai thực hiện có lúc, có nơi chưa thường xuyên, sâu sát, việc lựa chọn đăng ký mô hình còn hình thức, dàn trải, chưa sát với thực tế địa phương nên các mô hình, điển hình “dân vận khéo” chưa bền vững, thiếu sức lan tỏa, hiệu quả chưa cao. 
– Nguyên nhân của hạn chế
Một số cấp ủy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác này. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ trực tiếp phụ trách công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu gương mẫu, chưa nêu cao tinh thần dân chủ, trách nhiệm phục vụ nhân dân, quan liêu, xa dân, chưa tích cực trong việc bám dân và bám địa bàn. Việc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc chưa được chú trọng. Tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội ở một số nơi chưa phát huy được vai trò lãnh đạo, công tác phối hợp thiếu chặt chẽ, không sát dân, không làm tốt việc tuyên truyền vận động nhân dân.
3. Giải pháp chủ yếu tăng cường công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Nông
Trong thời gian tới, nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Nông, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, đội ngũ cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh về vị trí, vai trò của công tác dân vận trong tình hình mới, trong đó, đặc biệt chú ý đến công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng phát hiện, tập hợp, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng vận động quần chúng cho già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng dân cư.
Thứ hai, tăng cường và đổi mới công tác dân vận trong các cơ quan nhà nước; rà soát, ban hành và thực hiện tốt chính sách dân tộc. Đổi mới cách thực hiện công tác dân vận, giải quyết kịp thời những kiến nghị, khúc mắc trong nhân dân, triển khai các chế độ chính sách kịp thời, công khai, dân chủ; chủ động ban hành các chính sách đặc thù của tỉnh nhằm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Thứ ba, lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn để thực hiện mục tiêu giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong quá trình thực hiện, phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội, gắn kết các chương trình, dự án với công tác tập huấn khuyến nông, đào tạo nghề, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm phát triển kinh tế cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ tư, quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng cán bộ làm công tác dân vận. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ bảo đảm về số lượng, chất lượng, đặc biệt là đội ngũ tham mưu nòng cốt, trực tiếp về công tác dân vận. Quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, cán bộ dân vận theo hướng chuẩn hóa, trẻ hóa. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số nói chung và đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng nói riêng. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Kế hoạch số 655/KH-UBND ngày 01/11/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh về “việc thực hiện Đề án bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”.
Thứ năm, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, gắn với phong trào “dân vận khéo” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cần bám sát nhiệm vụ chính trị, nắm bắt tâm lý, nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số để xác định nội dung, hình thức phát động thi đua sát với tình hình thực tiễn của địa phương, ngành, đơn vị. Vận động và tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số phát huy cao độ tiềm năng, sáng tạo, tích cực lao động, sản xuất; đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo để chia rẽ đoàn kết, gây bất ổn về an ninh chính trị trên địa bàn./.

——————————————–

(1) và (3) Ban Dân tộc tỉnh Đắk Nông, Báo cáo số 1336/BC-BDT ngày 21/12/2023 về kết quả công tác dân tộc năm 2023 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2024, tr.3 và 11
(2), (4), (5) và (6) Ban Dân vận Tỉnh ủy Đắk Nông, Báo cáo số 219-BC/BDVTU ngày 13/12/2023 về kết quả công tác dân tộc, công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số năm 2023, tr.6, 6, 6 và 8
(7) Tỉnh ủy Đắk Nông, Báo cáo số 10-BC/TU ngày 11/11/2020 về kết quả 05 năm thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tr.5
(8) Tỉnh ủy Đắk Nông, Báo cáo số 391-BC/TU ngày 31/8/2023 về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và 05 năm thực hiện Kết luận số 43-KL/TW ngày 07/01/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, tr.18

(Tạp chí Khoa học chính trị Số 10.2024)