TS. NGUYỄN THỊ KIM LIÊN(*)

(*) Học viện Chính trị khu vực II,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Ngày nay, phát huy sức mạnh mềm để phát triển đất nước đang được sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng không đứng ngoài xu thế phát triển đó. Văn hóa trở thành một trong các trụ cột của phát triển bền vững, là động lực của quá trình phát triển, là nhân tố phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia. Con người với tư cách là chủ thể xã hội đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển, là nguồn lực của mọi nguồn lực, quy tụ sức mạnh, quyết định sự tồn vong hay hưng thịnh của dân tộc. Bài viết tập trung nghiên cứu sức mạnh mềm văn hóa và việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa để phát triển bền vững đất nước hiện nay.
Từ khóa: sức mạnh mềm; sức mạnh mềm văn hóa; Việt Nam

1. Sức mạnh mềm văn hóa và việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa
Sức mạnh mềm được tạo nên bởi những giá trị tự thân bên trong, lan tỏa ra từ những điều tốt đẹp, từ đó, cảm hóa, quy tụ sự đồng thuận, đoàn kết để thực hiện mục tiêu chung bằng cách giáo dục, tuyên truyền, vận động, khuyến khích. Khác với sức mạnh cứng, đó là sự uy hiếp, ép buộc, áp đặt, mệnh lệnh để khiến người khác phải làm cái mình muốn, thông qua sức mạnh mềm, một quốc gia có thể khiến đối tượng có hành vi học tập và làm theo những điều mình mong muốn dựa trên sức lan tỏa về văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, đạo đức, hình thái ý thức và chế độ, sự thuyết phục của thể chế, chính sách được thực thi hiệu quả ở nước mình. Từ đó, nhận được cảm tình, sự nể phục và hợp tác bền vững của họ để thực hiện mục tiêu chiến lược của quốc gia. Sức mạnh mềm nằm ở văn hóa, ở hệ thống các giá trị và ở chính sách. Cuối thế kỷ XX, thuật ngữ sức mạnh mềm văn hóa xuất hiện với hàm nghĩa là sự gia tăng ảnh hưởng, vị thế của quốc gia này với quốc gia khác trong quan hệ quốc tế thông qua sự hấp dẫn của các giá trị văn hóa.
Đối với nước ta, “sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam là khả năng đạt được những gì mà dân tộc, nhân dân Việt Nam mong muốn thông qua việc gây dựng ảnh hưởng, tạo sự hấp dẫn bởi giá trị văn hóa Việt Nam, hệ giá trị chính trị – xã hội và mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chính sách đối nội và đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”(1).
Văn hóa chính là sức mạnh mềm đặc biệt, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, bởi văn hóa Việt Nam chính là hệ thống các giá trị (văn hóa vật thể và phi vật thể), tư tưởng, triết lý và nhân sinh quan của con người Việt Nam. Cụ thể:
Thứ nhất, hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam. Giá trị văn hóa vật thể là các di sản văn hóa (đình, chùa, miếu mạo, lăng tẩm, thành quách…) mà cha ông đã sáng tạo ra qua các thời kỳ lịch sử; là hệ thống các danh lam, thắng cảnh trải dài trên khắp đất nước Việt Nam. Dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã sáng tạo ra một kho tàng các di sản văn hóa, trở thành thứ tài sản vô giá của dân tộc. Việt Nam hiện có 8 di sản được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và 14 di sản được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ngoài ra, Việt Nam còn có 7 Di sản tư liệu và 11 Khu dự trữ sinh quyển thế giới(2). Những di sản văn hóa này chính là nguồn lực, sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước, nhất là khi chúng ta biết phát huy để phát triển du lịch. Văn hóa là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với du lịch, yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến của du khách. Di sản văn hóa cũng chính là cái làm nên bản sắc dân tộc, khẳng định sự hiện diện của các quốc gia trong thế giới hội nhập. Nhận thức rất rõ điều đó nên trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xem đó là “sức mạnh mềm”, là “tài sản vô hình”, là “nguồn lực nội sinh quan trọng để đảm bảo cho sự phát triển bền vững đất nước”. Những giá trị văn hóa mà cha ông sáng tạo ra không chỉ để chiêm ngưỡng và tự hào, mà chúng ta phải phát huy, khai thác, sử dụng những giá trị đó để phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ: “Khẩn trương triển khai có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”(3). Xây dựng và phát triển ngành công nghiệp văn hóa là nội dung đã được đề cập trong Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Những giá trị văn hóa truyền thống chính là nguồn lực quan trọng để phát triển ngành công nghiệp văn hóa.
Ngoài những giá trị văn hóa vật thể thì các giá trị văn hóa phi vật thể cũng đóng vai trò quan trọng để phát triển đất nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, sự đoàn kết cộng đồng… Tất cả đều tiềm ẩn trong mỗi người con Việt Nam. Những giá trị đó làm nên nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội. Có lẽ, chưa bao giờ Đảng ta lại đề cập đến việc khơi dậy tinh thần dân tộc nhiều đến thế! Làm sao để lan tỏa, để thắp lên tinh thần đó, biến nó thành sức mạnh vô hình vượt qua mọi khó khăn, thử thách để đưa đất nước đi lên? Lòng yêu nước, tự hào dân tộc không chỉ là thứ tình cảm tự nhiên, mà nó được hun đúc nên bởi ông cha ta trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước; nó thấm sâu vào tình cảm, vào tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam trong mọi thời đại, tạo nên sức mạnh to lớn. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định rất rõ việc “khơi dậy”, thức tỉnh những giá trị văn hóa đang nằm sâu trong mỗi con người, để biến nó thành sức mạnh tổng hợp nhằm phát triển bền vững đất nước. Bởi như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Tọng trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (ngày 24/11/2021) đã khẳng định: “nói đến văn hóa là nói đến những gì là tinh hoa, tinh tuý nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ…”(4).
Ngày nay, trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, hơn lúc nào hết cần khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước để cho mỗi người con đất nước Việt Nam ra sức học tập, nghiên cứu, đùm bọc, chia sẻ, phát huy nội lực của mình để đưa đất nước đi lên. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030, phần Quan điểm phát triển, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững”(5).
Thứ hai, hệ tư tưởng: đó là hệ thống các quan điểm, tư tưởng của một giai cấp, phản ánh lợi ích của giai cấp ấy trong một xã hội nhất định. Hệ tư tưởng hạt nhân của nền văn hóa Việt Nam là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn hệ thống chính trị. Mặc dù, không thể đồng nhất hệ tư tưởng với văn hóa, nhưng là sai lầm nếu không xác định vị trí trung tâm của hệ tư tưởng trong một nền văn hóa. Bởi, hệ tư tưởng chính là thành tố trung tâm của văn hóa tinh thần, đóng vai trò liên kết, chi phối các thành tố khác khiến xã hội vận hành theo khuynh hướng tư tưởng chung, tạo nên sự đồng thuận của xã hội. Văn hóa biểu hiện sức sống, sức phát triển, sự hiểu biết và trí tuệ, đạo lý, tâm hồn, khí phách, bản lĩnh… của con người, của dân tộc trong mối quan hệ với đồng loại, xã hội và với tự nhiên, được xây dựng và bồi đắp trong suốt chiều dài lịch sử. Những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Nhờ kiên định vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa Việt Nam luôn tỏ rõ sứ mệnh thiêng liêng là “soi đường cho quốc dân đi”. Nhìn từ toàn bộ tiến trình phát triển xã hội, con người, ở thời nào cũng vậy, văn hóa, tư tưởng đóng vai trò thúc đẩy quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Văn hóa tạo nên sức mạnh hòa nhập, sức sống, sức sáng tạo và khả năng đoàn kết dân tộc một cách sâu sắc.
Trong thời đại ngày nay, các thế lực thù địch với âm mưu “diễn biến hòa bình” luôn tìm cách xuyên tạc, bóp méo vai trò chủ đạo, dẫn đường của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền đa nguyên hóa văn hóa nhằm tạo nên sự hỗn loạn về văn hóa, tư tưởng, làm mất đi trụ cột nâng đỡ về tinh thần của dân tộc ta, làm rối ren hệ ý thức tư tưởng trong nội bộ Đảng, dẫn đến sự hỗn loạn về kinh tế, chính trị và cuối cùng là sự sụp đổ của chế độ. Trước tình hình đó, chúng ta phải kiên định với vai trò của hệ tư tưởng trong xây dựng văn hóa để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh mềm phát triển đất nước.
Thứ ba, triết lý sống của người Việt Nam: Tinh thần đùm bọc nhau của người Việt: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Thương người như thể thương thân”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “Máu chảy ruột mềm”, “Lá lành đùm lá rách”… là những giá trị đạo đức quý báu từ ngàn đời của người dân Việt Nam. Văn hóa là yêu thương, chia sẻ, văn hóa là đạo đức, văn minh, là tình người trong xã hội. Trong xã hội hiện nay, những giá trị này luôn được tỏa sáng, đó là: những hành động, nghĩa cử cao đẹp, không ngại gian khó, hiểm nguy của đội ngũ y, bác sĩ, những người ở tuyến đầu chống đại dịch COVID-19 để cứu sống bệnh nhân; những bếp ăn từ thiện, những cây gạo ATM; những bảng đề “Nếu bạn khó khăn, hãy lấy một phần. Nếu bạn ổn, xin nhường người khác”… đã dấy lên tinh thần tương thân tương ái, đồng lòng, đồng sức của con người Việt Nam trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát. Cách ứng phó và chủ động phòng, chống đại dịch COVID-19 của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đã cho thấy một Việt Nam nhân văn, nghĩa tình. Đây chính là “sức mạnh mềm” khiến bạn bè trên thế ấn tượng, thán phục.
Thứ tư, những giá trị tích cực về nhân sinh quan trong cuộc sống người Việt: từ truyền thống hiếu học đến “tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết; trọng tình nghĩa, trọng công lý và đạo lý xã hội”(6)… Thực ra, những giá trị này đã có sẵn từ ngàn đời nay của người dân Việt Nam, cần được phát huy, lan tỏa trong xã hội ngày nay. Truyền thống hiếu học đã và đang giúp cho người Việt Nam không ngừng học tập, nghiên cứu, trau dồi kiến thức để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đưa đất nước đi lên; góp phần nâng cao trình độ dân trí, trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ của dân tộc trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nhất là công nghiệp 4.0. Nâng cao sức sáng tạo và khả năng ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất và tổ chức đời sống xã hội nhằm thực hiện khát vọng đổi mới, sáng tạo, tăng trưởng kinh tế, tạo sự thịnh vượng, giàu có cho đất nước. Truyền thống hiếu học của người Việt cũng chính là tinh thần yêu nước, biểu tượng của khát vọng và ý chí vươn lên.
2. Một số hạn chế trong phát huy sức mạnh mềm văn hóa
Thời gian qua, việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa còn một số hạn chế. Điều này thể hiện ở một số khía cạnh cụ thể sau:
Một là, chưa khai thác, phát huy hết những tiềm năng, thế mạnh của văn hóa Việt Nam. Năm 2016, Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt phát triển các ngành công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Đây là quyết định đúng đắn nhằm khai thác, phát huy các giá trị văn hóa để phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, cho đến nay, sau 06 năm ban hành nhưng Chiến lược vẫn chưa triển khai, thực hiện một cách hiệu quả. Những giá trị văn hóa tinh túy, đặc sắc của Việt Nam vẫn chưa thực sự lan tỏa đến với bạn bè thế giới. Chưa có chiến lược cụ thể để khai thác, phát huy các giá trị văn hóa trở thành những hàng hóa thực sự nhằm tạo nên thương hiệu quốc gia, mở đường cho kinh tế phát triển như một số nước đã thành công. Hay nói cách khác, các giá trị văn hóa vẫn chỉ ở dạng tiềm năng, chưa thực sự là lợi thế để phát triển đất nước. Giá trị kinh tế trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật chưa được khai thác triệt để, chưa xây dựng được thị trường văn hóa.
Hai là, văn hóa chưa thực sự được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Nhận thức về văn hóa, vai trò của văn hóa còn hạn chế ở các cấp, các ngành. Một số cán bộ lãnh đạo vì chưa hiểu đúng tầm quan trọng của văn hóa nên chưa quan tâm nhiều đến phát triển văn hóa. Nguồn kinh phí đầu tư cho phát triển văn hóa còn chưa ngang tầm với những giá trị đích thực của nó. Các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh trên lĩnh vực văn hóa vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại; chưa có được sự quan tâm đúng mức từ phía Đảng và Nhà nước để động viên, hỗ trợ kịp thời, tháo gỡ những vướng mắc. Các doanh nghiệp hoạt động còn mang tính tự phát, riêng lẻ; chưa có sự kết nối, có tầm chiến lược. Chính vì vậy, việc khai thác, phát huy các tiềm năng văn hóa để trở thành “sức mạnh mềm” quốc gia đang bị cản trở bởi nguồn lực tài chính, cũng như cơ chế, chính sách và chiến lược phát triển.
Ba là, công tác truyền thông văn hóa vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Ngày nay, khi mà các phương tiện thông tin đại chúng đã và đang trở thành cầu nối giữa các “công dân toàn cầu” thì việc sử dụng các phương tiện này để giới thiệu, quảng bá văn hóa là điều không thể không quan tâm. Thế nhưng, thời gian qua, chúng ta chưa đầu tư nhiều cho việc quảng bá văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia thông qua các kênh truyền thông. Việt Nam có tiềm năng, lợi thế về văn hóa, đất nước, con người, thậm chí nhiều hơn các nước khác. Điều này đã được ông Joseph Nye – cha đẻ của học thuyết sức mạnh mềm khẳng định. Ông cho rằng, Việt Nam là một quốc gia có nhiều điều kiện, cơ hội và lợi thế để gia tăng sức mạnh mềm văn hóa trong quan hệ quốc tế, như: sự nổi danh từ lịch sử đấu tranh giành độc lập bảo vệ chủ quyền; tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc; sự chuyển đổi thành công sang một nền kinh tế có mức tăng trưởng ấn tượng… Tất cả những điều này phải được lan tỏa, quảng bá rộng rãi, nhất là trong môi trường quốc tế.
3. Giải pháp phát huy sức mạnh mềm văn hóa
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, cần quan tâm tới một số giải pháp sau:
Thứ nhất, các cấp chính quyền cần nhận thức đầy đủ vai trò của văn hóa – sức mạnh mềm trong quá trình phát triển bền vững đất nước. Khi đã nhận thức đầy đủ thì trong mọi chiến lược, hành động đưa ra đều có ý thức trong việc lan tỏa những giá trị văn hóa. Ngoài việc quảng bá, lan tỏa văn hóa thì việc bảo tồn văn hóa cũng đóng vai trò rất quan trọng. Bởi, nếu không bảo tồn thì không thể khai thác và phát huy được giá trị văn hóa. Vì vậy, chúng ta phải hết sức quan tâm bảo tồn các giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc, đặc biệt là các di sản văn hóa đã được công nhận là di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của nhân loại. Bên cạnh đó, chúng ta cần tập trung phát triển ngành công nghiệp không khói – công nghiệp du lịch, công nghiệp văn hóa để khai thác, phát huy các lợi thế về văn hóa.
Thứ hai, khơi dậy, phát huy tinh thần dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, lòng tự tôn, tự hào dân tộc,.. từ đó phát huy sức mạnh con người, tạo động lực để phát triển bền vững đất nước. Tăng cường công tác giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Kêu gọi, gắn kết cộng đồng kiều bào đang sinh sống ở các quốc gia trên thế giới để cùng nhau quảng bá, giới thiệu văn hóa, con người Việt Nam. Hơn thế, chúng ta cần không ngừng cố gắng để có những sản phẩm văn hóa xuất khẩu ra nước ngoài.
Thứ ba, Đảng và Nhà nước cần quan tâm đầu tư nhiều hơn về tài chính cho lĩnh vực văn hóa; phải thực sự đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chiến lược về phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và tiếp thu kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc khai thác, phát huy sức mạnh mềm văn hóa để phát triển bền vững đất nước. Hỗ trợ, giúp đỡ, kết nối với các doanh nghiệp kinh doanh văn hóa vững bước phát triển, tháo gỡ vướng mắc. Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp trong nền kinh tế thị trường và mở cửa, hội nhập mạnh mẽ hiện nay.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác truyền thông về văn hóa ra thế giới bằng nhiều hình thức khác nhau, như: xây dựng các trang website quảng bá văn hóa Việt Nam, thông qua truyền hình, truyền thanh, báo chí; tổ chức các cuộc giao lưu, gặp gỡ giữa các quốc gia, ngày hội văn hóa non sông; xây dựng các chương trình truyền hình đối ngoại bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế. Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại; từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới”(7) .
Tóm lại, chúng ta đang sống trong thời đại hòa bình, hợp tác và nhân quyền. Thế giới đang hướng về những giá trị nhân văn cao cả. Chân – thiện – mỹ luôn là những giá trị vĩnh hằng của nhân loại. Cái đúng, cái tốt, cái đẹp được tôn vinh thì xã hội đó sẽ đạo đức, văn minh. Chân – thiện – mỹ phải là những mục tiêu vươn tới, trở thành thang giá trị chủ đạo trong việc định hướng, điều chỉnh hành vi và mục đích sống của cá nhân và cộng đồng thì xã hội sẽ phát triển bền vững. Từ lâu, Đảng ta đã xác định vai trò quan trọng của văn hóa. Rằng, văn hóa chính là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của xã hội. Văn hóa, với những gì đã phân tích ở trên, ngày nay, cần được phát huy tác dụng, tạo nên ý thức sâu rộng trong tầng lớp nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ – “sức mạnh mềm” khơi dậy giá trị để Việt Nam phát triển bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây cũng chính là giải pháp mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu lên trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc: “Phát triển “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia trong thời gian tới”(8)./.

——————————————————-

(1)https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/phat-huy-suc-manh-mem-van-hoa-viet-nam
(2) Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt
(3), (5) và (7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.145, 215-216 và 147
(4), (6) và (8) Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.158-159, 157 và 174

(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 09/2022)