TS. NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Tóm tắt: Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang tồn tại một nghịch lý: hơn 05 triệu hộ kinh doanh nhỏ lẻ vẫn e ngại chuyển đổi thành doanh nghiệp. Bài viết phân tích những rào cản chủ yếu khiến lực lượng đông đảo này “không muốn lớn”. Trên cơ sở Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị “về phát triển kinh tế tư nhân”, bài viết cho rằng để nâng cao hiệu quả chuyển đổi từ hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính mà cần tạo các đòn bẩy thể chế thông qua những giải pháp thiết thực, khả thi. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ thực tiễn nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trong quan hệ sản xuất, tạo điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu quốc gia đạt 02 triệu doanh nghiệp vào năm 2030.
Từ khóa: hộ kinh doanh; kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 68-NQ/TW; quan hệ sản xuất; thuế khoán
TRANSFORMING HOUSEHOLD BUSINESSES INTO ENTERPRISES IN VIET NAM IN THE NEW DEVELOPMENT ERA: BARRIERS AND SOLUTIONS
Abstract: The Vietnamese economy currently faces a notable paradox: more than five million household businesses remain reluctant to transform into enterprises. This article analyzes the principal barriers that keep this vast group of businesses reluctant to “scale up.” Drawing on Resolution No. 68-NQ/TW dated May 4, 2025, of the Politburo on private-sector development, the article argues that improving the effectiveness of the transformation from household businesses into enterprises cannot rely solely on administrative directives, but requires institutional levers through practical and feasible measures. The findings provide empirical grounds for removing bottlenecks in the relations of production and creating the conditions needed to achieve the national target of two million enterprises by 2030.
Keywords: household businesses; private sector; Resolution No. 68-NQ/TW; relations of production; presumptive taxation

1. Đặt vấn đề
Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, thế và lực của đất nước đã được nâng lên tầm cao mới, tạo tiền đề vững chắc để Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và trí tuệ nhân tạo (AI) đang định hình lại diện mạo nền kinh tế thế giới. Quá trình “xã hội hóa” lực lượng sản xuất hiện đại đòi hỏi sự tích tụ tư bản lớn, ứng dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại và sự phân công lao động gắn với chuỗi cung ứng toàn cầu. Do đó, để giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, việc tái cấu trúc quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất mới là yêu cầu khách quan, cấp bách.
Tính đến năm 2025, khu vực kinh tế tư nhân nước ta có khoảng 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 05 triệu hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động (Bộ Chính trị, 2025). Đây là khu vực kinh tế phát triển năng động, chiếm khoảng 51% GDP (trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm 28% GDP, hộ sản xuất chiếm 23% GDP), trên 30% ngân sách và sử dụng 82% lao động (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.292). Mặc dù có những đóng góp quan trọng, nhưng mô hình kinh tế hộ gia đình chiếm số lượng lớn lại phản ánh tình trạng tổ chức sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, phân tán. Điều này đang trở thành “địa bàn không đầy đủ” cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Phần lớn các hộ kinh doanh có quy mô siêu nhỏ, tiềm lực tài chính yếu, trình độ quản trị và năng lực đổi mới sáng tạo thấp. Việc thiếu tư cách pháp nhân làm hạn chế khả năng huy động vốn, khó liên kết với các doanh nghiệp lớn hoặc khu vực FDI để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đáng ngại hơn, tâm lý “không muốn lớn” do đã quen dựa dẫm vào cơ chế thuế khoán thiếu minh bạch đang triệt tiêu động lực chuyển đổi của khu vực này. Do đó, cần giải quyết triệt để tình trạng này nhằm hạn chế sự đứt gãy hệ thống của nền sản xuất, tránh lãng phí nguồn lực quốc gia và cản trở nỗ lực phát triển bứt phá của đất nước.
Trên cơ sở Nghị quyết số 68-NQ/TW, nghiên cứu phân tích quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới thông qua việc nhận diện các rào cản trong thực tiễn, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp tháo gỡ, góp phần phát huy vai trò động lực quan trọng nhất của kinh tế tư nhân đối với phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để phân tích các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 68-NQ/TW và các văn bản triển khai về phát triển kinh tế tư nhân, chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp. Đồng thời, bài viết khai thác số liệu, báo cáo và các nghiên cứu thực tiễn để nhận diện, đánh giá những rào cản về pháp lý, tài chính, năng lực, môi trường kinh doanh, từ đó tổng hợp và đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp với yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Những “rào cản” đối với quá trình chuyển đổi từ hộ kinh doanh thành doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp hiện đang vướng phải những rào cản chủ yếu sau:
Thứ nhất, rào cản về địa vị pháp lý
Đặc trưng pháp lý lớn nhất của hộ kinh doanh là không có tư cách pháp nhân và chủ hộ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, không có văn bản luật nào định nghĩa về hộ kinh doanh và xác định rõ bản chất địa vị pháp lý của chủ thể này. Do đó, mặc dù có thể được đăng ký, nhưng địa vị pháp lý của hộ kinh doanh vẫn không rõ ràng (Lê Duy Bình, 2024, tr.20). Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chính thức xóa bỏ tư cách chủ thể của hộ gia đình. Hệ quả là các quy định tài chính, tín dụng không công nhận tư cách giao dịch của hộ kinh doanh, buộc chủ hộ khi vay vốn phải ký hợp đồng đứng tên cá nhân, khiến tài sản thế chấp bị lẫn lộn với tài sản dân sự của gia đình (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2016). Tương tự, Luật Quản lý thuế năm 2019 cũng quy đổi mã số thuế của hộ kinh doanh về mã số thuế cá nhân của người đại diện. Việc thiếu tư cách pháp nhân khiến họ không thể độc lập đứng tên trong các giao dịch kinh tế lớn, không thể phát hành cổ phần hay trái phiếu, dẫn đến không có khả năng huy động vốn chính thức hay tham gia đấu thầu cạnh tranh. Do không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025, hộ kinh doanh còn phải đối mặt với rủi ro mất trắng tài sản cá nhân trong trường hợp kinh doanh thất bại và gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các nguồn lực chính thức (vốn, đất đai, công nghệ…) do còn gặp khó khăn trong tiếp cận và thụ hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Rào cản pháp lý còn tác động đáng kể đến mức độ sẵn sàng chính thức hóa của hộ kinh doanh. Kết quả khảo sát năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương (DDCI) do Economica Việt Nam phối hợp với Cục Thống kê các địa phương thực hiện cho thấy tỉ lệ hộ kinh doanh có ý định đăng ký chuyển đổi thành doanh nghiệp chỉ đạt 0,8% ở Hòa Bình, 0,8% ở Lào Cai và 0,4% ở Sóc Trăng; tại An Giang, hơn 1.000 hộ kinh doanh được khảo sát đều không có ý định chuyển đổi theo Luật Doanh nghiệp (Lê Duy Bình, 2024, tr.24).
Thứ hai, rào cản về tài chính, tâm lý
Cơ chế thuế khoán duy trì quá lâu đã tạo ra “nơi trú ẩn” an toàn khiến các hộ kinh doanh không muốn rời khỏi. Thuế khoán vừa khó quản lý do thiếu minh bạch, vừa bất bình đẳng vì mức khoán thường thấp hơn nhiều so với doanh thu thực tế, nên khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh lo ngại chi phí hoạt động sẽ tăng do phải áp dụng chế độ kế toán phức tạp, sử dụng hóa đơn điện tử, chịu thêm các loại thuế mới và đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động,… (Uyên Nhi, 2025).
Tâm lý lo ngại này hoàn toàn có cơ sở khi có tới 71,2% hộ gặp khó khăn thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử, 67,6% lúng túng khi hạch toán chi phí được trừ và 54,8% không biết cách sửa hóa đơn sai. Gánh nặng tuân thủ này không chỉ là chi phí tài chính, mà còn là áp lực lớn về thời gian đối với 73% số hộ kinh doanh (VCCI, 2026, tr.88-89). Đặc biệt, nỗi lo về chi phí bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế sau chuyển đổi (chiếm tới 91,3%) khiến các hộ không muốn lên doanh nghiệp (VCCI, 2026, tr.94). Tâm lý phòng thủ này càng bị siết chặt khi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 chính thức đưa “chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh” vào nhóm đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội (điểm m, khoản 1, Điều 2) (Quốc hội, 2024).
Trước những áp lực dồn dập về chi phí và thời gian tuân thủ quy định, nhất là khi áp dụng bãi bỏ thuế khoán từ năm 2026, các hộ kinh doanh đã “nghĩ ra” các chiêu thức đối phó với chính sách, như từ chối nhận thanh toán bằng phương thức chuyển khoản, không phát hành hóa đơn hoặc chia nhỏ doanh thu bằng cách mở nhiều địa điểm hoặc tách hóa đơn, ghi sai nội dung giao dịch để “né” kiểm soát dòng tiền… (Minh Phương, 2025). Đây chính là sự phản ứng của phương thức sản xuất cũ trước yêu cầu minh bạch hóa của nền kinh tế hiện đại.
Thứ ba, rào cản về năng lực
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, lực lượng sản xuất đòi hỏi tính liên kết mạng lưới rất cao. Tuy nhiên, đại bộ phận hộ kinh doanh hiện nay có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, trình độ nhân lực thấp, công nghệ lạc hậu, phương thức quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm gia đình, thiếu tầm nhìn dài hạn. Chính sự yếu kém về năng lực quản trị, không đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế về an toàn, môi trường, ESG, kế toán… đã khiến hộ kinh doanh khó đạt được các hợp đồng thương mại với doanh nghiệp FDI, không thể trở thành nhà cung cấp cho các tập đoàn tư nhân lớn. Chính tình trạng manh mún, nhỏ lẻ này đã khiến năng suất lao động của khu vực này ở mức rất thấp, gây lãng phí nguồn lực và kìm hãm sức cạnh tranh quốc gia.
Thứ tư, rào cản về môi trường kinh doanh
Sự do dự của hộ kinh doanh còn xuất phát từ môi trường kinh doanh chưa thực sự bình đẳng và an toàn. Bởi vì, khi trở thành doanh nghiệp, họ có nỗi lo về thanh tra, kiểm tra từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Rủi ro bị “hình sự hóa các quan hệ kinh tế” là một rào cản gây tâm lý e ngại cho các hộ kinh doanh khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, bởi một sai sót nhỏ trong hạch toán kế toán cũng có thể dẫn đến rắc rối về mặt pháp lý. Hơn thế, chi phí trung gian, chi phí không chính thức và tình trạng nhũng nhiễu, cùng với sự bất bình đẳng trong tiếp cận các dự án, nguồn lực so với khối doanh nghiệp nhà nước và FDI cũng là rào cản làm giảm ý chí khởi nghiệp và khát vọng vươn lên của các chủ hộ kinh doanh.
Những rào cản này cho thấy, việc duy trì mô hình hộ kinh doanh cá thể quy mô lớn thực chất là duy trì một quan hệ sản xuất đã lỗi thời; sự chuyển đổi không thể chỉ dựa vào tinh thần tự nguyện hay mệnh lệnh hành chính, mà đòi hỏi một bước đột phá mạnh mẽ trong tư duy và chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước.
3.2. Bước đột phá tư duy lý luận và công cụ chính sách nhằm mục tiêu kiến tạo “địa bàn đầy đủ” cho kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới
Nghị quyết số 68-NQ/TW cùng hệ thống các nghị quyết triển khai của Quốc hội và Chính phủ tháo gỡ những rào cản đối với sự chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp thông qua hai mũi đột phá. Đó là đột phá về tư duy lý luận và công cụ chính sách.
3.2.1. Đột phá về tư duy lý luận
Nghị quyết số 68-NQ/TW ra đời đã đánh dấu sự thay đổi mang tính đột phá trong tư duy lý luận của Đảng khi lần đầu tiên khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” (Bộ Chính trị, 2025). Sự thay đổi từ “quan trọng” lên “quan trọng nhất” là sự tôn trọng quy luật khách quan, thừa nhận kinh tế tư nhân chính là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp hiện nay để đi tiên phong trong việc thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, phấn đấu đến năm 2030 “là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” (Bộ Chính trị, 2025).
Nghị quyết cũng yêu cầu xóa bỏ triệt để tư duy “không quản được thì cấm”, chuyển mạnh từ hành chính công vụ, quản lý đơn thuần sang phục vụ và kiến tạo phát triển – một sự cởi trói về tư tưởng, nhìn nhận việc chuyển đổi 05 triệu hộ kinh doanh đủ điều kiện thành doanh nghiệp là quá trình “xã hội hóa sản xuất” tất yếu để tạo ra “địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển.
3.2.2. Đột phá về công cụ chính sách
Tư duy chiến lược của Nghị quyết số 68-NQ/TW đã được cụ thể hóa thành các công cụ chính sách thông qua Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội “về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân” và Kế hoạch hành động của Chính phủ, giải quyết trực diện “điểm nghẽn” của hộ kinh doanh:
Một là, đột phá về tài chính, xóa bỏ tâm lý ỷ lại
Để phá vỡ sự thỏa hiệp với tính phi chính thức, Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW đã chủ trương trong năm 2026 sẽ xóa bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh và bãi bỏ hoàn toàn lệ phí môn bài. Mục đích chính là tạo ra cú hích nhằm xóa bỏ rào cản tâm lý của hộ kinh doanh, định hướng nền kinh tế vận hành theo chuẩn mực minh bạch, sổ sách kế toán và hóa đơn điện tử.
Hai là, tạo lập môi trường an toàn về pháp lý
Để xóa bỏ sự e ngại nhũng nhiễu và rủi ro hình sự hóa, Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã luật hóa nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm hình sự với hành chính, dân sự nêu trong Nghị quyết số 68-NQ/TW. Cụ thể, ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính để khắc phục sai phạm kinh tế; bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội; tài sản kê biên phải tương ứng với thiệt hại, phân biệt rõ tài sản pháp nhân và cá nhân. Đồng thời, Chính phủ chỉ đạo chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo, quy định chỉ kiểm tra không quá 01 lần/năm đối với doanh nghiệp (trừ khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng). Những chính sách này thể hiện rõ nỗ lực cải cách thể chế nhằm kiến tạo một môi trường an toàn để các hộ kinh doanh tự tin chuyển mình thành doanh nghiệp.
Ba là, khơi thông điểm nghẽn về tích tụ tư bản và chuỗi giá trị
Để giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn lực của mô hình hộ gia đình, hệ thống chính sách mới tạo ra các gói ưu đãi về tài chính và công nghệ chưa từng có, như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian đầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh chuyển đổi.
Sự kết hợp giữa tư duy lý luận và hệ thống đòn bẩy chính sách đã tạo ra bước đột phá tháo gỡ “xiềng xích” của quan hệ sản xuất cũ, dọn đường cho kinh tế tư nhân phát huy vai trò động lực quan trọng nhất trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
3.3. Nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ rào cản đối với việc chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp trong kỷ nguyên phát triển mới
Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước và mục tiêu đạt hai triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030, quá trình “chính thức hóa” khu vực kinh tế hộ kinh doanh đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện, trực tiếp tháo gỡ các rào cản, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.
3.3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác tuyên truyền, vận động
Một là, đổi mới căn bản phương thức tuyên truyền pháp luật và chính sách hỗ trợ theo hướng “cá nhân hóa”. Các cấp ủy đảng địa phương cần chủ trì, chỉ đạo chính quyền phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội doanh nghiệp, hội doanh nhân trẻ tổ chức các chương trình tư vấn pháp lý và phổ biến chính sách trực tiếp đến từng nhóm hộ kinh doanh có tiềm năng chuyển đổi (đặc biệt là nhóm hộ có quy mô từ 06 lao động trở lên hoặc có doanh thu tiệm cận ngưỡng chịu thuế). Nội dung tuyên truyền phải bóc tách rõ ràng bài toán chi phí – lợi ích, chứng minh bằng thực chứng các quyền lợi cụ thể sau khi chuyển đổi, như tư cách pháp nhân để ký kết hợp đồng, khả năng tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi chính thức và lộ trình bảo hộ quyền tài sản của Nhà nước.
Hai là, thiết lập cơ chế giám sát thực thi công vụ và gắn kết quả chuyển đổi hộ kinh doanh với công tác đánh giá cán bộ. Các đảng bộ địa phương cần nghiên cứu bổ sung chỉ tiêu cải thiện môi trường kinh doanh và tỉ lệ chuyển đổi hộ kinh doanh thành công trên địa bàn vào tiêu chí đánh giá, xếp loại hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cấp ủy và người đứng đầu chính quyền cấp cơ sở (cấp trực tiếp quản lý hộ kinh doanh). Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm và thay thế kịp thời những cán bộ, đảng viên thực thi công vụ có thái độ nhũng nhiễu, thờ ơ, duy trì tư duy “xin – cho” hoặc cố tình trì hoãn việc giải quyết vướng mắc cho các hộ kinh doanh trong quá trình chuyển đổi.
3.3.2. Đột phá về thể chế
Sự e ngại lớn nhất của các chủ hộ kinh doanh khi chuyển đổi thành doanh nghiệp là gánh nặng chi phí tuân thủ hành chính, quy trình kế toán phức tạp và rủi ro pháp lý phát sinh sau “chính thức hóa”. Để tháo gỡ rào cản tâm lý này, cải cách thể chế cần tập trung thiết lập các công cụ kỹ thuật đồng bộ, đơn giản, minh bạch:
Một là, đổi mới phương thức quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” gắn với chuyển đổi số và quản trị rủi ro: các cơ quan quản lý nhà nước cần chuyển đổi căn bản sang cơ chế tự kê khai, tự chịu trách nhiệm kết hợp quản lý dựa trên rủi ro và số hóa; công tác thanh tra, giám sát trực tiếp tại cơ sở cần được thay thế bằng kiểm tra dựa trên tích hợp dữ liệu trực tuyến, qua đó giảm thiểu tối đa các điểm tiếp xúc trực tiếp dễ phát sinh tiêu cực giữa cán bộ thực thi với doanh nghiệp.
Hai là, vận hành hiệu quả ứng dụng điện tử (App) phản ánh kiến nghị theo thời gian thực nhằm kiểm soát quyền lực và gỡ vướng trực tiếp cho doanh nghiệp. Các địa phương cần nghiên cứu, phối hợp triển khai đồng bộ ứng dụng “để tiếp thu, kịp thời giải quyết các vướng mắc, phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh” (Chính phủ, 2025), ghi nhận theo thời gian thực các hành vi lạm quyền, nhũng nhiễu, kiểm tra chồng chéo, đòi hỏi chi phí không chính thức hoặc thanh tra sai quy định của cán bộ địa phương.
Xét trên phương diện quản trị quốc gia, việc trao quyền giám sát cho doanh nghiệp không chỉ giúp họ tự tin hoạt động, mà còn để kiểm soát quyền lực, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây chính là giải pháp căn cơ nhằm hiện thực hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thông qua công nghệ số. Vì vậy, Nhà nước cần thiết lập cơ chế bảo mật tuyệt đối cho doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc pháp lý về bảo vệ người đấu tranh chống tiêu cực. Dữ liệu phản ánh cần được mã hóa và lưu trữ độc lập tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, tách biệt hoàn toàn khỏi hệ thống hành chính địa phương. Đồng thời, hệ thống phải tuân thủ các quy chuẩn khắt khe về an toàn thông tin mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, kết hợp các tính năng báo cáo ẩn danh để loại bỏ nguy cơ rò rỉ danh tính, gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp.
Ba là, đơn giản hóa tối đa thủ tục chuyển đổi cho phép doanh nghiệp mới thành lập được kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ từ hộ kinh doanh cũ (giấy phép, hợp đồng, quyền sử dụng đất, tài sản thế chấp). Về thực chất, đây là sự cam kết bảo hộ của Nhà nước đối với quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh của người dân.
3.3.3. Tạo đòn bẩy tài chính và tín dụng
Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế tư nhân và hỗ trợ thiết thực cho hộ kinh doanh chuyển đổi, các giải pháp đòn bẩy tài chính và tín dụng cần tập trung giải quyết hai điểm nghẽn: áp lực chi phí tuân thủ thuế phí sau chuyển đổi và rào cản tài sản thế chấp khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.
Một là, thực thi ngay các chính sách ưu đãi tài chính trực tiếp nhằm giảm thiểu tối đa áp lực chi phí ban đầu: Nhà nước cần áp dụng chính sách “đòn bẩy”, như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 03 năm đầu kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh, đồng thời bãi bỏ lệ phí môn bài cho hộ kinh doanh chuyển đổi từ đầu năm 2026 (Quốc hội, 2025), để doanh nghiệp mới có thời gian thích ứng với yêu cầu minh bạch hóa sổ sách kế toán. Việc triển khai các gói hỗ trợ này cần đi đôi với đơn giản hóa thủ tục hành chính để chính sách thực sự đi vào cuộc sống.
Hai là, đa dạng hóa danh mục tài sản thế chấp và đẩy mạnh cơ chế thẩm định tín dụng phi tài sản; tiếp tục hoàn thiện mô hình các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời có cơ chế hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội, quản trị doanh nghiệp).
3.3.4. Đột phá về kỹ thuật – công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh
Để tháo gỡ rào cản về năng lực công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số thực chất cho các hộ kinh doanh khi chính thức nâng cấp lên doanh nghiệp cần tập trung vào các công cụ kỹ thuật đồng bộ sau:
Một là, thực hiện cơ chế đòn bẩy tài chính hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và phát triển, bằng cách cho phép doanh nghiệp mới chuyển đổi được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp một khoản bằng 200% chi phí thực tế chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) (Quốc hội, 2025) hoặc nâng cấp công nghệ sản xuất, qua đó khuyến khích doanh nghiệp nhỏ chủ động đầu tư cải tiến quy trình, kỹ thuật công nghệ thay vì duy trì thói quen sản xuất thủ công.
Hai là, Nhà nước cần phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp triển khai “cung cấp miễn phí các nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung, dịch vụ tư vấn pháp lý, đào tạo về quản trị doanh nghiệp, kế toán, thuế, nhân sự, pháp luật cho các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh” (Bộ Chính trị, 2025). Việc hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp này sẽ góp phần giảm bớt nỗi lo ngại về chi phí tuân thủ và nâng cao khả năng tự hạch toán của các chủ hộ kinh doanh hạn chế về kỹ năng kế toán.
Ba là, tích hợp tiêu chí “sử dụng nhà cung cấp nội địa” vào các chính sách ưu đãi kinh tế. Khi ban hành chính sách ưu đãi về thuế và đất đai cho các tập đoàn kinh tế lớn hoặc dự án FDI mới, chính quyền địa phương cần lồng ghép tiêu chí ràng buộc về tỉ lệ sử dụng nhà cung cấp nội địa, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn chủ động thiết lập liên kết bền vững, bảo trợ và dìu dắt các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ mới chuyển đổi từ hộ kinh doanh tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.
Như vậy, chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể sang doanh nghiệp không đơn thuần là thao tác kỹ thuật để tăng thu ngân sách, mà là một thay đổi mang tính đột phá trên cả ba phương diện của quan hệ sản xuất, nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển trong kỷ nguyên mới.
4. Kết luận và kiến nghị
4.1. Kết luận
Quá trình chuyển đổi từ hộ kinh doanh thành doanh nghiệp là yêu cầu mang tính quy luật về việc hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại, đáp ứng đòi hỏi bứt phá của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, các rào cản khách quan và chủ quan đang thách thức các hộ kinh doanh cá thể trên con đường vươn mình thành doanh nghiệp. Để gỡ bỏ rào cản này hiệu quả, các giải pháp phải được triển khai đồng bộ, quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, theo đúng quy trình, lộ trình.
Về mặt phương pháp luận, các nhóm giải pháp được đề xuất cần phải được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với thực tiễn vận động của nền kinh tế nhằm hướng đến hoàn thành mục tiêu 02 triệu doanh nghiệp Việt Nam vào năm 2030, hiện thực hóa khát vọng về một quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
4.2. Kiến nghị
Thứ nhất, kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo ưu tiên vốn tín dụng, nới lỏng điều kiện bảo lãnh và mở rộng tài sản thế chấp
Cơ quan quản lý tiền tệ cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật chi tiết để hệ thống ngân hàng thương mại đa dạng hóa danh mục tài sản bảo đảm (chấp nhận các tài sản phi truyền thống, như phần mềm công nghệ, dữ liệu kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ hoặc dòng tiền thực chứng của phương án kinh doanh), đồng thời nới lỏng các điều kiện bảo lãnh tín dụng phi tài sản để tạo điều kiện thực tế cho hộ kinh doanh sau chuyển đổi tiếp cận dòng vốn vay chính thức.
Thứ hai, kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các bộ, ngành liên quan thiết lập hỗ trợ mạnh mẽ nguồn lực công nghệ
Cần khẩn trương hoàn thiện các cơ chế đồng tài trợ, các gói ưu đãi công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ để đầu tư nghiên cứu, phát triển (R&D) và ứng dụng các giải pháp công nghệ hiện đại vào sản xuất, kinh doanh./.

Ngày nhận: 01/4/2026; Ngày phản biện: 03/8/2026
Ngày duyệt đăng: 25/9/2026
Email liên hệ: nguyenvietphuong@husc.edu.vn

———————————————-
Tài liệu tham khảo
Lê Duy Bình (2024). Xác định địa vị pháp lý cho hộ kinh doanh tại Việt Nam: Chìa khóa để chính thức hóa. Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 Ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2026). Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025. Nxb Đại học Kinh tế quốc dân.
Minh Phương (2025). Bỏ thuế khoán: Cải cách chỉ thành công khi đi đến cùng và loại bỏ thói quen cũ. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn, ngày 08/6/2025
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016). Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Uyên Nhi (2025). Thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp – Thách thức từ chính sách thuế mới và giải pháp. Tạp chí Dân chủ & Pháp luật. https://danchuphapluat.vn, ngày 27/6/2025
Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2024).
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.

(Tạp chí Khoa học chính trị Số 7/2026)